Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

Thu gom và xử lý rác thải nông thôn

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2008/Số 17/III. Kỹ thuật và công nghệ bảo quản - chế biến – tiêu thụ
Đề mục : 87.53 Chất thải. Quản lý và sử dụng chất thải, công nghệ ít chất thải và không chất thải
87.51 Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên ở từng khu vực và từng nước
Từ khoá : Rác thải nông thôn Thu gom Xử lý Bảo vệ môi trường
Nội dung:
Mỗi năm, trong cả nước có hàng chục triệu tấn rác thải sinh hoạt phát sinh và theo dự báo thì tổng lượng chất thải đó vẫn tiếp tục tăng lên nhanh chóng trong thập kỷ tới. Rác thải sinh hoạt đang là vấn đề nổi cộm ở Việt Nam. Rác thải sẽ gây ra ô nhiễm môi trường không khí, môi trường đất, nước, làm cho cảnh quan nhiều địa phương mất đẹp, gây nhiều bệnh tật, tác động xấu đến sức khoẻ con người, môi trường kinh tế và du lịch.
Trong thời kỳ đổi mới, có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, làng nghề, xã nghề phát triển mạnh, nó đã góp phần đem lại thu nhập khá cao cho các vùng nông thôn có các làng nghề. Hoạt động sản xuất của phần lớn làng nghề, xã nghề ở quy mô nhỏ, công nghệ sản xuất lạc hậu và chưa được quan tâm vấn đề xử lý ô nhiễm môi trường. Khối lượng chất thải rắn không được thu gom hoặc thu gom với tỷ lệ thấp gây tình trạng chất đống bừa bãi ra đường giao thông, kênh mương, ao hồ.... Nhìn qua thực trạng sự phát triển kinh tế làng nghề hiện nay có thể thấy nó tỉ lệ nghịch hoàn toàn với vấn đề môi trường và vệ sinh môi trường nói riêng. Chưa có một nghiên cứu nào so sánh giữa thu nhập từ kinh tế làng nghề và sự suy thái môi trường và vệ sinh môi trường do sự phát triển của làng nghề, chỉ lấy một ví dụ qua điều tra ở một làng nghề tái chế chì ở làng Đông Mai (Hưng Yên), cho thấy nghề này đã đem lại thu nhập cho các gia đình bạc tỉ. Ở đây, mỗi ngày nấu 10 tấn chì, thải vào không khí trên 500 kg bụi chì gấp 4.600 lần cho phép. Chưa nói đến cảnh quan môi trường, chỉ riêng sức khoẻ con người cho thấy có đến 30% số người làng bị đau mắt và bị bệnh về đường hô hấp; 100% người trực tiếp nấu chì bị nhiễm chì đường máu; 25% trẻ em bị viêm não di chứng để lại ngớ ngẩn, thọt chân, bại liệt, mù. Những người trực tiếp nấu chì da xạm đen, gầy yếu, mắt đỏ...
Các nghề khác nhau cần có những biện pháp xử lý chất thải khác nhau, phải có sự quan tâm của các nhà khoa học, các cấp lãnh đạo và sự hợp tác chặt chẽ của các cộng đồng làng nghề để hạn chế những tiêu cực của quá trình phát triển làng nghề. Riêng nước thải làng nghề một tin vui là hiện các nhà khoa học đang hoàn thiện một phương pháp xử lý nước thải bằng biện pháp sinh học, nếu thành công hy vọng đây là biện pháp vừa rẻ lại vừa hiệu quả.
Để thu gom và xử lý tốt có mấy cách sau:
- Chôn rác tại chỗ:
Cách này thích hợp với mọi gia đình vì lượng rác hàng ngày thải ra không nhiều. Ở một góc vườn xa nhà ở, đào một cái hố nhỏ, chừng nửa mét vuông, sâu 50 – 60 cm. Rác thu gom được hàng ngày đổ vào đó. Chừng vài ngày, đến nửa tháng, khi thấy đã nhiều thì rắc một ít vôi bột lên trên để sát trùng. Chừng vài ba tháng, hố đã đầy, ta phủ một ít vôi bột lên trên và lấp hố lại bằng đất bộ khô và đào hố khác sử dụng. Hố đó sau vài tháng, rác hoai, có thể dùng để bón cho cây trong vườn hay ngoài đồng, hoặc có thể trồng một cây ăn trái gì đó vào hố. Chú ý: nên phân loại những vật chất rắn, thủy tinh hay sắt để xử lý riêng. Nếu từng gia đình nông thôn có vườn làm được điều này thì sức ép về rác thải cũng đỡ phần nào.
- Thu gom rác ủ phân:
Trường hợp ở những nơi làng xóm đã “đô thị hóa”, còn ít, hoặc không còn vườn, mỗi gia đình hoặc những nơi công cộng như chợ làng, trường học, nhà văn hóa nên có một thùng đựng rác, quét dọn hàng ngày hay sau mỗi buổi họp, buổi sinh hoạt hót đổ vào thùng rác, rồi tổ chức có xe cải tiến đi thu gom tất cả rác đó đưa đến một nơi đổ quy định. Đã có nhiều mô hình địa phương tổ chức việc này rất tốt, đó là do chính quyền quan tâm được sự đồng thuận của cộng đồng đồng thời với biện pháp quản lý tốt. Nơi đổ rác thải tập trung phải xa khu dân cư, nên đào hố để đổ. Kích thước hố có thể từ 1,5 đến 2 thước khối hoặc hơn tùy theo phạm vi phục vụ. Khi hố đã đầy rác tiến hành ủ để làm phân. Riêng rác thải ở trạm xá nên phân loại các vật nhọn, cứng, như kim tiêm, ống tiêm, các vỏ lọ thủy tinh đựng thuốc.... để xử lý riêng, còn các loại bông băng vết thương, dây máu mủ... nên có một lò thiêu tại chỗ hàng ngày.
Một kinh nghiệm giải quyết rác thải nông thôn rất tốt đó là hai hợp tác xã Mỹ Lộc Thượng và Mỹ Lộc Hạ cả hai đều ở xã An Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Họ đã xây bể chứa rác chia đều khoảng cách theo cụm dân cư. Mỗi cái chứa được 10 m3 bằng vật liệu gạch xây vôi cát. Giá thành mỗi bể gần 2,7 triệu đồng. Hàng ngày, rác thải từ mỗi gia đình, được bà con tập trung đổ vào đây. Khi nào đầy bể thì địa phương hợp đồng với Ban quản lý các công trình công cộng huyện đưa ô tô về chở đi đổ ở bãi rác khu vực để xử lý. Hợp tác xã trích tiền từ quỹ văn hóa xã hội để chi phí cho việc vận chuyển.
Hiện nay có một số nơi cũng đã tổ chức các đội chuyên trách thu gom và xử lý rác thải như mô hình thu gom và xử lý rác của Thái Bình áp dụng cho quy mô nhỏ ở cấp thôn, xã. Các tổ thu gom rác thải từ 5 đến 7 người có quy chế hoạt động cụ thể và chịu sự quản lý của chính quyền xã hoặc thôn. Tổ thu gom rác được trang bị xe đổ rác, các vật dụng cần thiết gồm: cuốc xẻng, quần áo bảo hộ lao động, khẩu trang, chổi... Tổ thu gom hoạt động hàng ngày vào các giờ quy định (thường từ 15 đến 16 giờ), trong thời gian này các nhân viên thuộc tổ thu gom có trách nhiệm thu gom rác và vệ sinh đường làng, ngõ xóm trong các thôn xã. Rác thải sau khi thu gom được vận chuyển đến bãi rác, các nhân viên tiếp tục thực hiện các công đoạn xử lý tiếp theo. Rác thải sau khi thu gom được trở đến khu vực quy định chôn cất theo kiểu cuốn chiếu. Kinh phí thu gom thu từ các hộ dân cư theo đơn vị gia đình bằng tiền mặt hoặc thóc để có nguồn tài chính trả công cho nhân viên trực tiếp thu gom và xử lý.
Xã Nghĩa Hiệp, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên tổ chức những đội thu gom rác do trạm trưởng y tế làm trưởng ban, mỗi thôn thành lập một đội, được trang bị quần áo bảo hộ lao động và các phương tiện chuyên dùng. Mỗi tuần hai lần, đội thu gom rác thải đưa về nơi quy định để xử lý. Tiền thù lao 70.000 đồng đến 100.000 đồng một tháng/người. Nguồn kinh phí này do dân đóng góp.
Cách ủ rác làm phân:
Vì đây là cách xử lý rác để làm phân nên phương pháp đơn giản như sau:
Khi rác đã đổ trong hố thành một lớp dày chừng 30 – 40 cm thì rắc từ 2 – 3 kg supe lân hay apatit, 1 – 2 kg vôi bột. Có thể cho thêm 1 kg urê hay 10 kg phân bắc hay gà vịt để tăng thêm đạm. Khi lớp rác đã cao tới 1,5 – 2 m thì rắc lên trên một lớp đất bột dày 10 đến 15 cm phủ rơm rạ và tưới nước. Sau 40 đến 45 ngày đống phân nóng lên, khối lượng xẹp xuống thì dỡ lớp rơm rạ ra, giẫm chặt, phủ đất 10 – 15 cm và tưới nước đủ ẩm. Mặt trên đống phân, chính giữa nên hơi lõm xuống và moi lỗ để nước ngấm vào rác. Chừng 1 đến 2 tháng thì có thể đem đi bón ruộng, hố đó lại tiếp nhận nguồn rác mới. Đúng với khẩu hiệu “sạch làng, tốt ruộng”.
Nguồn: TC Thông tin chuyên đề Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tr. 31 – 34, số 4/2007.
*****************************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia