Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

Bệnh sán lá ruột ở lợn

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2007/Số 43/Cách làm ăn mới
Đề mục : 68.39 Chăn nuôi
68.41 Thú y
Từ khoá : Bệnh lợn Bệnh sán lá Lợn nhiễm bệnh sán lá Phòng trị bệnh Thú y Kỹ thuật chăn nuôi
Nội dung:
1. Biểu hiện lâm sàng
Biểu hiện rõ nhất của lợn nhiễm sán là còi cọc, thiếu máu suy nhược do sán chiếm đọat chất dinh dưỡng. Lợn nhiễm sán, nhất là lợn con 3 – 4 tháng tuổi vẫn ăn khỏe, nhưng không lớn được, tăng trọng rất thấp, gây thiệt hại về kinh tế. Sự giảm tăng trọng phụ thuộc vào cường độ cảm nhiễm sáng của lợn.
Lợn nái nuôi con nhiễm sán lá không những gầy mà còn giảm lượng sữa, ảnh hưởng đến sự phát triển của lợn con và tỷ lệ lợn con ỉa phân trắng cao hơn ở các đàn lợn mà lợn nái không nhiễm sán.
Trong quá trình ký sinh, sán lá gây tác hại cơ giới khi di chuyển trong ruột non, tạo điều kiện cho việc nhiễm trùng thứ phát, gây viên ruột cata. Lợn thể hiện ỉa chảy, phân tanh, có thể dẫn đến tử vong. Độc tố của sán cũng gây ra hiện tượng rối loạn tiêu hóa ở lợn con 3 – 4 tháng tuổi: khi ỉa táo, khi phân lỏng, làm cho lợn còi cọc và chậm lớn.
Bệnh tích: Mổ lợn bị nhiễm sán lá nặng, thấy niêm mạc ruột non bị loét và tụ máu thể hiện trạng thái viêm ruột cata. Ở những lợn đã trưởng thành 6 – 8 tháng thường thấy ruột non bị sùi lên, niêm mạc ruột dày ra, do tác động bám vào ruột và di chuyển của sán lá.
2. Chẩn đoán
a. Phương pháp chẩn đoán: chủ yếu để phát hiện động vật nhiễm sán lá là dùng phương pháp lắng cặn Benedek để tìm trứng trong phân. Phương pháp này đã và đang được áp dụng rộng rãi để chẩn đoán bệnh sán lá ruột, đơn giản và dễ thực hiện.
b. Chẩn đoán bằng kháng nguyên tiêm nội bì
Có thể chế kháng nguyên từ sán F.buski trưởng thành, pha thành nồng độ 1/250 tiêm nội bì. Phương pháp này cho kết quả tốt, có thể chẩn đoán được khi sán còn non chưa để trứng được. Tuy nhiên, khó thực hiện trong sản xuất vì phương pháp này đòi hỏi sử dụng kỹ thuật phức tạp, tốn công sức.
3. Biện pháp phòng trừ
a. Tổng trừ sán cho lợn
- Dipterex là thuốc tẩy có hiệu quả cao, rẻ tiền, đã được sử dụng tẩy F.buski từ lâu ở nước ta. Liều dùng 0,2g/kg thể trọng lợn. Thuốc được trộn với thức ăn cho lợn, tỷ lệ tẩy sạch sán 80-100%. Đôi khi dùng quá liều qui định, lợn bị say thuốc: chảy rãi rớt, nằm run rẩy và ỉa chảy. Các trường hợp xảy ra như vậy cần giải độc bằng tiêm atropin theo qui định: 1ml (dd 5%) cho 5 -10 kg thể trọng lợn, tiêm thuốc trợ sức vitamin B1, vitamin C, cafein và cho uống nước đường.
- Dichlovos là dẫn xuất của dipterex được dùng ở dạng hấp phụ trong hạt polyethylen, có tác dụng như dipterex (ít phản ứng phụ cho lợn).
b. Vệ sinh môi trường và diệt trứng sán trong phân
Biện pháp thường được áp dụng quyết dọn sạch chuồng trại hàng ngày, định kỳ tiêu độc chuồng trại bằng nước vôi 10%, dipterex 1%. Biện pháp này có tác dụng diệt mầm bệnh trong chuồng trại.
Điều quan trọng là phải thực hiện ủ phân để diệt trứng sán lá trong phân bằng nhiệt. Biện pháp tuy đơn giản, nhưng có tác dụng tránh được sự ô nhiễm mầm bệnh ngoài môi trường tự nhiên.
c. Diệt ốc ký chủ trung gian
Nước vôi 5-10%, sunlfat đồng (CuSO4) 5/10.000 có tác dụng diệt các lòai ốc ký chủ trung gian trong tự nhiên. Nhưng nơi có điều kiện thì nên sử dụng biện pháp này diệt ốc ký chủ trung gian trong các ruộng trồng rau thủy sinh cho lợn và người. Nhưng cần chú ý, sunlfat đồng có thể gây ô nhiễm và độc cho người và súc vật. Ở nước ta, việc thực hiện biện pháp diệt ốc ký chủ trung gian rất khó khăn, chưa khắc phục được.
4. Chăm sóc, nuôi dưỡng
Chăm sóc tốt đàn lợn để nâng cao sức đề kháng với bệnh. Chú ý: khi cho lợn ăn rau xanh cần rửa sạch, để ráo nước để hạn chế số lượng kén sán lây nhiễm cho lợn.
5. Phòng nhiễm cho người
Trong các vùng có lưu hành bệnh sán lá ruột, cần phổ biến các biện pháp tránh lây nhiễm cho người, trong đó phải thực hiện ăn uống sạch, hạn chế việc ăn rau sống.
Nguồn: Sách Bệnh phổ biến ở lợn/Nhà xuất bản nông nghiệp, Tập II.
**************************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia