Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2007 » Số 31 » II. Cách làm ăn mới » Các phương pháp kích thích sinh sản cho cá

Các phương pháp kích thích sinh sản cho cá

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2007/Số 31/II. Cách làm ăn mới
Đề mục : 69.09 Tài nguyên thuỷ sản. Nuôi trồng thuỷ sản
Từ khoá : Cá đẻ Kích thích sinh sản Phương pháp
Nội dung:
Có hai phương pháp kích thích sinh sản cho cá. Cách thứ nhất là tạo môi trường tương tự trong tự nhiên để cá đẻ trứng. Sự hiện diện của thực vật và tăng nhiệt độ nước có tác động đến một số loài cá. Sự thay đổi chu kỳ ánh sáng trong điều kiện sản xuất giống có thể thúc đẩy hay trì hoãn sự thành thục và sự chín của trứng ở nhiều loài cá.
Phương pháp thứ hai là tiêm cho cá một hay nhiều hoóc môn sinh sản tự nhiên hoặc các hoóc môn nhân tạo. Phương pháp này chỉ có tác dụng đối với những con cá đã sẵn sàng bước vào thời kỳ sinh sản và đã có trứng chín trong đó túi phôi đã di trú. Hai phương pháp này thường được sử dụng kết hợp. Phương pháp đầu để làm trứng chín, phương pháp sau để kích thích rụng trứng và đẻ trứng. Một số hoóc môn được dùng để kích thích đẻ trứng. Qua ít năm sử dụng, hai phương pháp này đã thu được nhiều thành công với chi phí thấp. Họ tiêm hoóc môn giải phóng kích tố sinh dục kèm theo chất kháng dopamin và tiêm kích tố sinh dục.
Kích thích thành thục sinh dục
Trong phương pháp này, các hoóc môn tuyến yên được chiết từ não thùy của cá chủ rồi tiêm vào cá đã thành thục sinh dục trong điều kiện nước và khí hậu thuận lợi trong mùa sinh sản. Não thùy của cá nhỏ, có hình quả lê, mềm và trắng nhạt, nằm ở phần não dưới vùng gò não, điều khiển thân nhiệt, gò não nối với não thùy bởi cơ cấu hình phễu. Hoạt tính và số lượng của các hoóc môn kích dục trong tuyến yên thay đổi theo mùa và tình trạng trưởng thành của cá chủ và vì vậy, mức độ thành công đạt được khi kích thích sinh sản phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng tuyến yên của cá chủ. Do đó, não thùy dùng để kích thích sinh sản nên được lấy từ những con cá đã trưởng thành và còn sống. Cách thức phổ biến của phương pháp này là dùng dao sắc cắt sọ cá. Não được lấy ra bằng cách gỡ dây thần kinh thị giác của cá chủ. Loại bỏ máu và chất lỏng, sau đó dùng một cái kim và kẹp từ từ lấy não thùy ra khỏi cá chủ. Không được để cho tuyến này bị vỡ nát, nếu không sẽ làm mất tác dụng của nó. Một số phương pháp sử dụng để bảo quản tuyến yên là bảo quản trong rượu hay axêtôn và làm đông lạnh. Phương pháp phổ biến nhất là bảo quản trong rượu nguyên chất.
Không nên để tuyến yên quá lâu, vì thế nên lấy tuyến yên ra trước rồi tiêm ngay cho cá nhận. Có một số phương pháp đơn giản để bảo quản chiết xuất tuyến yên. Ưu điểm của bảo quản chiết xuất đó là chất bảo quản giữ được trong tình trạng có thể sử dụng được ngay. Điều này rất quan trọng, nhất là đối với những trại nuôi nhỏ. Tiêm chiết xuất tuyến yên cho cá để kích thích sinh sản là phương pháp phổ biến trong nuôi thủy sản. Tuy nhiên, phương pháp đơn giản này không phải lúc nào cũng thành công do một số nguyên nhân như thiếu tuyến yên, phương pháp bảo quản và liều lượng sử dụng. Ngoài ra, phương pháp này còn phải đối mặt với những bất tiện như khó xác định hiệu năng của chất kích dục có trong tuyến yên để từ đó đề ra kỹ thuật chuẩn. Thêm vào đó, cần có tủ lạnh để bảo quản. Vì vậy, phần lớn những người nuôi sử dụng các chất kích dục nhân tạo cho cá đẻ.
Kích dục tố HCG
HCG là hoóc môn được sản sinh từ sự phát triển túi phôi và nhau thai ở người, có khả năng kích thích sinh sản và làm giải phóng tinh trùng và tế bào trứng từ tuyến sinh dục đã thành thục của cá. Nó tác động điều phối sự lưu thông chất kích dục của tuyến yên gốc. HCG có thể thu được từ nước tiểu của phụ nữ có thai, vì vậy nó rất rẻ và dễ kiếm. HCG được sử dụng thành công để kích thích rụng trứng và đẻ trứng của cá. Chất kích dục lấy từ các loài động vật có vú khắc phục những vấn đề gặp phải khi sử dụng chiết xuất tuyến yên. Một số nhà nghiên cứu đã khẳng định HCG là chất thay thế hiệu quả chiết xuất tuyến yên trong việc kích thích trứng chín đối với một số loài cá. Lượng HCG cần thiết tiêm cho cá được hòa trong nước cất hoặc nước muối. HCG có ba ưu điểm so với chiết xuất tuyến yên: rẻ hơn nhiều, không dễ phân huỷ nên có thể để lâu hơn, và sẵn có ở dạng tinh chế.
Chất tương tự GnRH có chứa kháng dopamin
Leutinising Hormone Releasing Hormone (LHRH – hoóc môn giải phóng hoóc môn kích dục) là tên của một loại hoóc môn của loài động vật có vú được sử dụng thành công để kích thích giải phóng các hoóc môn kích dục. Trong vài năm gần đây, LHRH nhân tạo, gọi là LHRHa, được phát triển hiệu quả hơn nhiều. Vì chúng tinh khiết hơn và không được cá chuyển hóa nhanh, các chất này duy trì được tác dụng trong thời gian dài. Trong điều kiện tự nhiên, cơ thể cá có một cơ chế phản ứng làm hạn chế việc giải phóng chất kích dục. Cơ chế này sử dụng một chất hóa học có tên là dopamin, chất này kiềm chế hoạt động của LHRH. Khi cá có dopamin, thì cả LHRHa cũng bị hạn chế. Chất kháng dopamin thường được sử dụng để hạn chế tác dụng của dopamin. Khi sử dụng kết hợp LHRHa và kháng dopamin, sinh sản thành công tăng đột biến.
Ovaprim
Ovaprim là một hỗn hợp của chất tương tự hoóc môn giải phóng kích dục tố cá Hồi và kháng dopamin domperidone. Sử dụng ovaprim dựa vào phương pháp Linpe, phương pháp này được phát triển sau khi nghiên cứu mở rộng về những tác động kêt shợp của chất LHRH, sGnRH kết hợp với kháng dopamin như doperidone hay pimozide. Ovaprim đã được kiểm tra thành công đối với một số loài cá như nhóm cá chép Ấn Độ ở Ấn Độ, cá Nheo Mỹ ở Mỹ và cá Trê trắng ở Malaixia. Ovaprim tác động tới tuyến yên đầu tiên, dẫn đến việc bài tiết chất kích dục nội sinh ngược lại với phương pháp tiêm thùy não, chất kích dục ngoại sinh được đưa vào cơ thể. Chất kích dục nội sinh xuất hiện làm tăng đáng kể steroid, cho phép trứng chín để sinh sản. Ovaprim có tác dụng gấp 17 lần so với LHRHa của động vật có vú. Việc tăng hiệu quả của SgnRHa là do tuyến yên có nhiều sự tương đồng hơn.
Ovatide
Ovatide là thuốc làm rụng trứng do một công ty của Ấn Độ sản xuất. Nó là một chất kích thích sinh sản nhân tạo chứa GnRH của cá hồi và kháng dopamin. Nó bao gồm từ 20 mg GnRH cá hồi và kháng dopamin. Nó bao gồm từ 20 mg GnRH cá hồi và 10 mg domperidone/ml. Loại thuốc này đã được thử nghiệm thành công trên một số loài cá .
Chăm sóc cá bố mẹ
Sự thành công của phương phá tiêm kích thích thành thục sinh dục và các kỹ thuật kích thích sinh sản phụ thuộc vào trạng thái của mẹ. Vì vậy, cần phải chú ý đến chất lượng cá bố mẹ. Cá giống bố mẹ khoẻ mạnh có thể bắt từ tự nhiên và nuôi vỗ trong ao có diện tích từ 50 – 100 m2 với mực nước tối thiểu khoảng 1 m. Mật độ thả nuôi ở mức tương đối thấp, khoảng 1.000 – 2.000 kg/ha. Thường xuyên bón phân và cho cá ăn bổ sung. Cá sắp đẻ được giữ trong ao hoặc lồng quây riêng, các thông số về chất lượng nước như nhiệt độ và ôxy phải duy trì ở mức tối ưu cũng như đảm bảo thức ăn cân đối. Nếu di chuyển cá từ nơi này sang nơi khác, cần phải có thời gian để các thích nghi. Các động tác phải chắc chắn, nhẹ nhàng, che cá bằng vải ẩm, để chống ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp vào cá, giúp chúng bình tĩnh và giảm stress. Đối với từng loài cá phải có chế độ cung cấp thức ăn phù hợp. định kỳ lấy mẫu và kiểm tra để xác định giai đoạn thành thục và tình trạng sức khoẻ của cá. Thời gian nuôi vỗ đối với mỗi loài cá khác nhau. Trong suốt thời gian này, phải chăm sóc cá chu đáo, đảm bảo chất lượng cá mẹ tốt để kích thích cho chúng đẻ.
Lựa chọn cá bố mẹ và xác định độ thành thục của cá
Ở một số loài cá, khi bấm nhẹ vào bụng cá đực ở gần hậu môn sẽ thấy rỉ ra chất lỏng màu trắng đục. Nhưng ở một số loài cá chép thì biểu hiện cá trưởng thành là vây ức gồ ghề. Cá cái trưởng thành có bụng hơi phình ra, hậu môn lồi và hơi đỏ. Đặc tính thứ hai thấy cả ở cá đực và cá cái.
Dùng ống thăm trứng rất tốt khi chọn cá cái đã thành thục, nhất là đối với cá chép. Chọc ống thăm vào lỗ sinh dục đang mở của cá cái, lấy một ít trứng cá ra để kiểm tra. Màu sắc và kích thước đồng đều của trứng chỉ ra mức độ trứng chín. Có thể sử dụng kỹ thuật sinh thiết để kiểm tra sự thành thục của cá cái. Lấy trứng khỏi buồng trứng và làm sạch bằng dung dịch, rồi quan sát trứng dưới kính hiển vi. Đối với trứng đã chín, túi phôi đã di chuyển tới trên thành tế bào.
Tiêm hoóc môn
Phương pháp kích đẻ và cách tiêm thuốc đối với mỗi loài là khác nhau. Người nuôi nên lựa chọn phương pháp phù hợp với từng loài cá và với điều kiện nuôi của mình. Sau khi lựa chọn cá bố mẹ, liều dùng để kích thích sinh sản được tính toán dựa vào khối lượng cơ thể của chúng. Thường là tiêm hai liều: liều ban đầu và liều quyết định, khoảng thời gian giữa hai lần tiêm từ 12 – 24 giờ. Liều ban đầu chuẩn bị cho cá đẻ trứng và liều quyết định để cá rụng trứng. Đối với cá chép, người ta dùng phương pháp tiêm não thùy. Cá cái được tiêm hai liều thuốc, mỗi liều cách nhau 4 – 6 giờ. Khi cá cái tiêm liều thứ hai thì cá đực cũng được tiêm một liều. Có một số kích dục tố nhân tạo chỉ cần tiêm một liều cho cả cá đực và cá cái.
Để chuẩn bị chiết xuất tuyến yên, cần hút tuyến yên ra ngoài, thấm khô và cân chính xác lượng cần thiết. Tuyến yên được ngâm trong máy trộn với lượng nước cất nhỏ và được pha loãng để mỗi ml chiết xuất chứa khoảng 20 – 40 mg tuyến yên. Dùng máy ly tâm để loại bỏ các mẩu mô vụn, giữ lại dung dịch hòa tan để tiêm cho cá. Mỗi cặp cá bố mẹ gồm hai cá đực và một cá cái, tỷ lệ này cũng khác nhau, tùy theo từng loài.
Có hai vị trí phổ biến để tiêm hoóc môn cho cá. Tiêm vào bụng ở phía sau vây bụng hoặc vây ức. Tiêm vào cơ là tiêm ở phần lưng cá phía trên và phía dưới trước vây lưng. Cách tiêm tùy từng loài cá. Một số loài cá có phản ứng khi tiêm vào cơ, trong khi các loài khác thì phản ứng khi tiêm vào bụng. Khi tiêm vào cơ, kim tiêm phải đâm vào dưới vảy đầu tiên song song với thân cá và chọc thủng cơ ở góc 450. Trong trường hợp tiêm vào bụng, ấn nhẹ kim vào cạnh trong đáy của vây ức. Thông thường là tiêm dưới da với xi lanh có dung tích 1 – 2 ml, chia thành 10 – 20 lần. Kích thước kim tiêm cũng quan trọng, phụ thuộc vào kích cỡ của cá.
Sau khi tiêm, thả các cặp cá bố mẹ vào bể xi măng hoặc bể nhựa composít, hoặc thả vào ao đất. Cung cấp nước dưới dạng phun mưa vào các bể đẻ và kiểm soát nhiệt độ để đảm bảo hiệu quả cao khi cá đẻ. Tuy nhiên, đối với cá quả, cho đẻ trong ao đất sẽ đem lại hiệu quả tốt hơn.
Nên kích thích sinh sản cho cá vào những ngày mát trời, có nhiều mây, khi nhiệt độ nước khoảng 25 – 300C. Thời gian tiêm thuốc phù hợp là vào cuối buổi chiều. Cá chép thường đẻ trứng sau khi tiêm liều thứ hai từ 3 – 6 giờ. Đối với cá nheo đẻ khoảng 10 – 12 giờ sau khi tiêm hoóc môn, còn cá quả thì khoảng 20 – 30 giờ. Trứng cá được đẻ ra vào sáng sớm, sẽ được thụ tinh theo cách tự nhiên ngay bên trong bể đẻ bằng tinh trùng của cá đực. Sau đó, chuyển cá bố mẹ ra khỏi bể. Đối với trường hợp cá quả, cá con cần sự chăm sóc của bố mẹ, vì vậy, nên nuôi cá bố mẹ cùng với cá con vừa nở trong ao.
Ấp trứng và cho nở
Đếm lượng trứng bằng ca men hoặc ca nhựa dung tích 1 – 2 lít hoặc cốc thủy tinh 500 – 1000 ml và đặt trong thùng nhựa. Từ thùng nhựa, dùng ca 1 lít chuyển trứng vào giai, cứ 3 – 4 lít vào một giai có hai lớp vách và đặt cố định trong ao để tránh tảo và cá dữ. Giai được để hở ở phía trên. Bên ngoài giai quây bằng vải dày và vải nilông lưới mịn, bên trong quây bằng vải màn. Thời gian trứng nở thường kéo dài khoảng 15 – 18 giờ ở nhiệt độ 26 – 31 0C đối với cá chép. Cá con mới nở di chuyển qua mắt lưới từ lớp trong của giai ra lớp ngoài giai. Khi trứng nở hết, trong giai chỉ còn vỏ trứng. Loại bỏ vỏ trứng, tiếp tục nuôi cá bột trong 3 ngày đến khi túi noãn hoàng tiêu hết hoàn toàn và cá bột có thể sẵn sàng để thả vào ao ương. Người ta cũng tìm ra một số phương pháp cải thiện kỹ thuật cho trứng nở làm giảm tỷ lệ chết của cá ấu trùng mới nở, ví dụ, cho trứng cá chép nở trong các bình bằng thủy tinh.
Dịch giả: Thu Hương
Nguồn: TC Thông tin Khoa học Công nghệ - Kinh tế Thủy sản, số 5/2007, tr. 19 – 23.
*******************************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia