Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2007 » Số 17 » I. Đường lối, chính sách » Một số giải pháp hạn chế ô nhiễm nguồn nước nuôi trồng thủy sản ở Bạc Liêu

Một số giải pháp hạn chế ô nhiễm nguồn nước nuôi trồng thủy sản ở Bạc Liêu

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2007/Số 17/I. Đường lối, chính sách
Đề mục : 68.94 Bảo vệ môi trường trong nông nghiệp
69.09 Tài nguyên thuỷ sản. Nuôi trồng thuỷ sản
Từ khoá : Nuôi trồng thủy sản Ô nhiễm Nguồn nước Giải pháp
Nội dung:
Để sử dụng nguồn nước mặn cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản đạt hiệu quả cao và phát triển bền vững cần phải có các giải pháp quản lý, giải pháp kỹ thuật, giải pháp giáo dục cộng đồng… làm cơ sở để hạn chế sự ô nhiễm nguồn nước mặn trên diện rộng, bảo vệ chất lượng môi trường nước. Một số các giải pháp chính có thể được đề xuất như sau:
Các biện pháp trong nuôi trồng thủy sản nhằm giảm ô nhiễm nguồn nước:
- Quy hoạch hệ thống cấp nước và tiêu nước cho các vùng nuôi tôm nên được tách riêng ra khỏi những khu canh tác lúa, đặc biệt là hệ thống lấy nước cấp cho các khu nuôi;
- Cần tiến hành xử lý nguồn nước thải từ các ao nuôi trước khi thải ra môi trường;
- Có thể ứng dụng các kỹ thuật xử lý nước thải sau nuôi tôm bằng biện pháp xử lý sinh học như dùng các loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ lọc bỏ các chất hữu cơ trong nước thải tại các ao chứa nước thải và có thể tái sử dụng nguồn nước này cấp lại cho các ao nuôi
- Lượng bùn sên vét đáy, cào ao nuôi cần được xử lý làm phân bón vi sinh hoặc được chôn lấp, không được để tràn tự nhiên ra môi trường.
Các biện pháp thủy lợi nhằm giảm ô nhiễm nguồn nước:
Thiết kế hệ thống cấp nước, tiêu nước cho các khu nuôi thủy sản đáp ứng đủ yêu cầu cấp nước và kênh tiêu phải tách rời khỏi kênh lấy nước;
Thiết kế, xây dựng hệ thống cống lấy nước và lọc phù sa đáp ứng tiêu chuẩn nuôi trồng để tôm có thể phát triển tốt trong môi trường nước được cấp;
Hệ thống kênh dẫn, kênh tiêu đào đắp đi qua vùng đất phèn cần lựa chọn các giải pháp hợp lý để hạn chế quá trình ôxy hóa các vật liệu sinh phèn gây chua cho các vùng xung quanh và nguồn nước phía hạ lưu;
Xây dựng chế độ tưới tiêu phù hợp cho các vùng quy hoạch sản xuất lúa, vùng nuôi thủy sản, xây dựng quy trình đóng mở cống ngăn mặn hợp lý đáp ứng yêu cầu: lấy nước mặn, ngăn mặn, xả phèn và trữ ngọt;
Quản lý nước trong hệ thống kênh muơng nội đồng cần phải được tính toán theo chế độ rửa, chế độ tưới cho tất các loại cây trồng, cho từng loại đất và hướng dẫn người dân cách thức vận hành quản lý nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao về hệ số sử dụng nước và giảm mức độ gây ô nhiễm môi trường hoặc gây lãng phí nguồn nước.
Xây dựng các tổ dùng nước nhằm sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn nước tưới tạo điều kiện tốt cho việc quản lý tài nguyên nước, sử dụng nước tiết kiệm và các hộ gia đình học hỏi lẫn nhau về kỹ thuật canh tác, nuôi trồng cũng như kỹ thuật sử dụng nguồn nước cho thủy sản;
Lập các chương trình tính dự báo về diễn biến môi trường nước trong các vùng bố trí quy hoạch nuôi thủy sản, trồng lúa theo các phương án thiết kế hệ thống công trình thủy lợi.
Các biện pháp trong nông nghiệp:
- Quy hoạch sản xuất nông nghiệp cho từng tiểu vùng cần phải xét đến tính phù hợp về điều kiện thổ nhưỡng, tập quán canh tác, nguồn nước cấp, mức tăng trưởng dân số trong những năm tới;
- Các vùng đất trũng, phèn nặng cần xâyd ựng các hồ sinh thái phát triển tổng hợp; phát triển thủy sản, lấy nước tưới vào thời kỳ hạn và sử dụng nước sinh hoạt;
- Thiết kế, quy hoạch của các ngành như nông nghiệp, thủy lợi, giao thông, thủy sản, xây dựng nên được xét đồng bộ nhằm xây dựng một kế hoạch hoàn chỉnh, lâu dài, không chồng chéo để không xảy ra hiện tượng lãng phí và ảnh hưởng tới môi trường;
- Canh tác trên vùng đất phèn phải thực hiện theo các hướng dẫn kỹ thuật nhằm hạn chế sự xì phèn, tiêu thoát các độc tố từ trong đất ra nguồn nước mặt do quá trình thau rửa phèn;
- Khuyến cáo nông dân sử dụng phân bón vi sinh, sử dụng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ có thời gian phân giải ngắn.
Biện pháp quản lý và giáo dục cộng đồng:
- Cần có sự hợp tác toàn diện giữa ban quản lý các dự án với các ban ngành có liên quan của địa phương bàn về vấn đề tổ chức thực hiện, về tiến độ thi công, về biện pháp thi công và về giám sát thi công công trình.
- Giám sát việc thực thi các hạng mục công trình theo nội dung thiết kế, khi có các vấn đề ô nhiễm môi trường xảy ra cần đề xuất ngay các giải pháp cụ thể mang tính khả thi để khắc phục mà không phải chờ đợi kéo dài thời gian tăng thêm mức độ nghiêm trọng.
- Thông báo cho người dân trong vùng dự án về những kế hoạch, tiến độ xây dựng các công trình và lợi ích của các công trình này đối với đời sống dân sinh kinh tế.
- Tuyên truyền vận động quần chúng hưởng ứng các chương trình chống ô nhiễm môi trường nước; không thải các chất thải sinh hoạt, chất thải chăn nuôi và chất thải rắn xuống các kênh rạch.
- Di dời các nhà ở phía lòng kênh vào phía trong để tránh hiện tượng xả thải xuống lòng kênh và tai nạn giao thông thủy.
- Xây dựng các khu tái định cư cần phải bố trí hệ thống thu gom xử lý nước thải, rác thải, xây dựng hệ thống nước cấp sinh hoạt.
- Cần xây dựng kế hoạch thu thập, phân tích định kỳ về chất lượng nước trong vùng. Phân tích diễn biến về thành phần các loài sinh vật nước.
Giải pháp xây dựng hồ sinh thái cấp nước ngọt mùa khô phục vụ sản xuất nông nghiệp:
- Hồ sinh thái nước ngọt là một khái niệm không mới ở các nước tiên tiến, nhưng rất mởi ở nước ta, tiêu chí cơ bản của hồ sinh thái là hồ chứa nước sạch, không bị ô nhiễm, bền vững trong môi trường tự nhiên, có cây xanh, thảm cỏ ven bờ hồ, có nguồn cấp, có công trình xử lý nước vào và nước cấp.
- Hồ sinh thái là dạng hồ phục vụ đa mục tiêu: từ cấp nước ăn, nước tưới đến nước cho công nghiệp, du lịch, tầng nước ngầm, cải tạo khí hậu, bảo vệ môi trường đồng thời cũng là nơi bảo tồn các hệ động thực vật hoang dã. Do vậy, việc tập trung phát triển loại hồ sinh thái liên hộ gia đình với quy mô từ 500 đến 5.000 m2, cải tạo, xây dựng các công trình xử lý nước vào, ra, trồng cây quanh hồ, chống thấm, chống nhiễm phèn, mặn bằng vải địa kỹ thuật, bằng lớp bọc nhân tạo, chống bốc hơi kết hợp nuôi thủy sản là loại hình có thể được ứng dụng tốt ở địa bàn tỉnh Bạc Liêu. Đối với một số kênh rạch không có nhiệm vụ giao thông thủy có thể được cải toạ sử đụng dể trữ nước ngọt vào cuối mùa mưa, và được giữ sạch phục vụ cung cấp nước ngọt cho mùa khô, trồng cây xanh và cỏ ở hai bên bờ kênh. Cần có giải pháp chống thấm vì đây là công việc phức tạp khi bờ kênh dài hàng ngàn mét và nước trong kênh được tích đầy vào cuối mùa mưa. Hiện nay giải pháp đơn giản nhất vẫn là sử dụng vải chống thấm để chống thấm qua lớp bờ hai bên kênh, có thể lựa chọn một số kênh cấp 2 để nâng cấp (đào sâu, mở rộng) cải tạo nâng cao bờ kênh, làm cống hai đầu kênh để trữ nước, cấp nước ngọt vào mùa khô phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất.
Trong tương lai nên tìm giải pháp để có đất xây dựng khoảng 20 hồ sinh thái vùng ven biển (Vĩnh Lợi, Đông Hải) với tổng diện tích hồ vào khoảng 1.000 ha, chúng ta sẽ có khoảng 50 đến 70 triệu m3 nước phục vụ cho đời sống, sản xuất và bảo vệ môi trường của vùng khan hiếm nước ngọt của tỉnh Bạc Liêu.
Tác giả: Lương Văn Thanh
Nguồn: TC Nông thôn mới, số 190, 12/2006, tr. 8-9.
*******************************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia