Giải pháp định hướng để phát triển kinh tế Quảng Nam |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Nông thôn đổi mới |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 52/I. Đường lối, chính sách |
| Đề mục | : | 06.61 Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ. Kinh tế theo vùng |
| Từ khoá | : | Kinh tế ; Giải pháp ; Định hướng |
| Từ khoá phụ | : | Phát triển |
| Nội dung: | ||
|
Từ nhiều năm nay nền kinh tế Quảng Nam là nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp sản xuất nhỏ, công nghiệp, dịch vụ chưa có gì. Kết cấu hạ tầng lạc hậu, kinh tế kém phát triển, lao động thiếu việc làm, tỷ lệ hộ đói nghèo cao. Vì vậy cần phải có những giải pháp mới cho việc phát triển kinh tế ở Quảng Nam.
Đầu tiên là phải tạo môi trường khuyến khích thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Có chính sách khuyến khích thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp, đầu tư vào khu vực nông thôn, miền núi, ưu tiên đầu tư vào các ngành công nghiệp tạo ra khối lượng sản phẩm lớn, có sức cạnh tranh. Tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư, quảng bá giới thiệu về cơ chế, chính sách, về tiềm năng của tỉnh rộng rãi, thường xuyên ở trong và ngoài nước. Tạo điều kiện và môi trường tốt nhất cho các nhà đầu tư đến làm ăn trên địa bàn tỉnh. Cần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong những năm trước mắt, tập trung phát triển công nghiệp chế biến, công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Từng bước hình thành các ngành công nghiệp mũi nhọn và những ngành có lợi thế về tài nguyên, lao động, thị trường. Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc, khu kinh tế mở Chu Lai. Có cơ chế mở để thu hút đầu tư tạo sản phẩm xuất khẩu. Đến năm 2010, GDP công nghiệp chiếm khoảng 40% trong cơ cấu chung của tỉnh. Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ theo hướng sản xuất hàng hóa. Quy hoạch và xây dựng các vùng chuyên canh ổn định, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Xây dựng các vùng chuyên canh rau quả, thực phẩm cung cấp cho khu vực thành thị và các khu công nghiệp. Phát triển nền nông nghiệp sạch bằng mô hình làng rau sạch, mô hình vườn hoa cây ảnh, vườn sinh thái, làng sinh thái. Ứng dụng rộng rãi tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả. Đến năm 2010, tỷ trọng GDP nông nghiệp giảm còn khoảng 20% trong cơ cấu chung của tỉnh. Phát triển thương mại, tăng cường quan hệ buôn bán, mở rộng thị trường trong và ngoài nước. Chú trọng thị trường trong tỉnh và khu vực. Ngành thương mại phải là cầu nối gắn kết giữa công nghiệp với nông nghiệp, giữa thành thị với nông thôn trên địa bàn tỉnh. Đầu tư phát triển ngành du lịch trên các lĩnh vực: vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, giữ gìn phát triển các danh lam thắng cảnh.... Tiếp tục đầu tư phát triển kinh tế, xã hội miền núi. Đầu tư phát triền miền núi phải khai thác nhiều nguồn lực. Ngân sách nhà nước đầu tư thông qua các chương trình phát triển kinh tế, xã hội miền núi. Kêu gọi, khuyến khích các ngành, các địa phương, các nhà doanh nghiệp đến đầu tư. Khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư. Có kế hoạch kết hợp và lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế, xã hội miền núi để sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư. Trước mắt tập trung cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, định canh, định cư, xóa đói giảm nghèo, tiến tới hướng dẫn phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại, trồng cây ăn quả, trồng cây công nghiệp, trồng rừng, phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp. Gắn phát triển kinh tế với việc xây dựng các trung tâm cụm xã, hình thành thị tứ, thị trấn, xây dựng nông thôn mới. Đối với miền núi, vai trò của khu vực kinh tế nhà nước rất quan trọng. Cần sử dụng tiềm lực của các ngành thương mại, dịch vụ, tài chính, ngân hàng , các nông lâm trường để tác động giúp đỡ, tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế, xã hội. Bên cạnh đó cần mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với bên ngoài. Hợp tác với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, đặc biệt là quan hệ chặt chẽ với Đà Nẵng và Quảng Ngãi trong nhiều lĩnh vực. Liên kết với các tỉnh khu vực miền Trung, Tây Nguyên để khai thác lợi thế của nhau. Mở rộng quan hệ nhiều mặt với các nước trên thế giới để tăng cường buôn bán, thu hút đầu tư, phát triển các loại dịch vụ nhất là khi khu kinh tế mở Chu Lai hoạt động. Ngoài ra phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yêu cầu vừa cơ bản vừa cấp bách hiện nay của tỉnh Quảng Nam để đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Gắn phát triển kinh tế với việc bảo vệ tài nguyên môi trường. Trong nông nghiệp, chuyển dần sang phát triển nền nông nghiệp sạch IBM, hạn chế sử dụng hóa chất độc hại. Trồng, bảo vệ rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc, ngăn chặn nạn phá rừng, trồng cây chắn gió, cát ven bờ biển. Khai thác thủy sản xa bờ, hạn chế khai thác gần bờ, bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Xử lý triệt để tình trạng ô nhiễm nguồn nước do nuôi tôm công nghiệp. Trong công nghiệp, bắt buộc phải xây dựng hệ thống xử lý chất thải khi xây dựng nhà máy. Xây dựng nhà máy xí nghiệp xa khu vực đông dân cư. Khuyến khích sử dụng công nghệ cao để tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu giảm chất thải, phát triển công nghệ tái chế tận dụng phế liệu, phế phẩm, tiết kiệm tài nguyên. Trong dịch vụ, đời sống cần xây dựng các cơ sở tập trung, thu gom xử lý chất thải. Quy hoạch, xây dựng đô thị phải giải quyết căn bản hệ thống thoát nước, hệ thống xử lý chất thải của bệnh viện, chợ... Thực hiện chính sách thuế tài nguyên môi trường. Có hệ thống luật pháp để xử lý nghiêm các đối tượng gây ô nhiễm môi trường. Tính toán mức độ thiệt hại, giá trị kinh tế để buộc các cá nhân, đơn vị gây ô nhiễm môi trường bồi thường... Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức cho nhân dân trong việc bảo vệ tài nguyên môi trường. Tác giả: PGS. TS. Phạm Thanh Khiết Nguồn: TC Sinh hoạt lý luận, số 5/2005, tr. 59 – 65. ******************************** |
||
