Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

Nông thôn An Giang: Đổi mới nhờ khoa học

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 52/IV. Phát triển cơ sở hạ tầng
Đề mục : 06.61 Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ. Kinh tế theo vùng
Từ khoá : Nông thôn Đổi mới Khoa học
Nội dung:
Năm 1990, diện tích gieo trồng của tỉnh chỉ có 185 ngàn hecta, đến năm 2004 lên đến 564 ngàn hecta (tăng 49%). Diện tích khai hoang, phục hóa đưa vào sản xuất và chuyển vụ được trên 162 ngàn hecta, … Sản lượng lương thực hàng năm đều tăng, đến năm 2004 đạt trên 3 triệu tấn, tăng gấp 2 lần so với năm 1990. Chăn nuôi, thủy sản có chiều hướng phát triển mạnh và đã xuất hiện nhiều mô hình chăn nuôi hàng hóa với quy mô vừa và lớn theo kiểu kinh tế trang trại. Sản lượng thủy sản nuôi tăng nhanh, đạt trên 125 ngàn tấn năm 2004, tăng gấp 19 lần so với năm 1990.
Kết quả trên có được là do có sự đầu tư nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ một cách đồng bộ từ việc nghiên cứu thổ nhưỡng, thủy lợi, giống, quy trình canh tác, … Trong đó khâu đột phá là việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất, lai tạo giống để tạo nguồn lúa chất lượng cao, phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng. Nhờ đó, tỷ lệ sử dụng giống lúa lai hàng năm đều tăng (năm 1999: 44%, năm 2004: 91% tổng diện tích canh tác). Từ năm 2001 – 2005 tỉnh đã triển khai đại trà 10 giống lúa chất lượng cao, đặc sản như OM 1490, OMSC 2000, OM 4495… Việc sinh sản, nhân tạo cá ba sa, cá tra, sản xuất giống tôm càng xanh… đã thúc đẩy ngành thủy sản phát triển mạnh, chấm dứt giai đoạn vớt cá bột trên sông Tiền và sông Hậu. Ngoài ra, ứng dụng khoa học và công nghệ vào nuôi trồng thủy sản còn làm tăng lợi nhuận cho nông dân gấp 3 – 4 lần so với trồng lúa. Song song với việc tích cực ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất, đời sống, tỉnh An Giang còn có nhiều chủ trương, chính sách để thúc đẩy kỹ thuật nông thôn phát triển. Điển hình như việc thực hiện cơ giới hóa, điện khí hóa phục vụ nông nghiệp, nông thôn; khuyến khích kinh tế hợp tác kinh tế trang trại phát triển và khôi phục, phát triển làng nghề truyền thống bằng những chính sách ưu đãi và chương trình khuyến công; xây dựng cơ sở hạ tầng…
Ông Phan Văn Ninh – Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ An Giang cho biết, kinh nghiệm rút ra từ hoạt động nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ vào nông nghiệp nông thôn là tiếp nhận tiến bộ từ các nơi là việc làm rất cần thiết. Tuy nhiên, không thể lãng quên các nguồn gien quý tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long mà con cá da trơn và tôm càng xanh là điển hình, trong tương lai còn phải lưu ý đến cá lăn, cá leo, cá kết… Các hoạt động khoa học và công nghệ cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa 4 nhà “Nhà nước – khoa học – doanh nghiệp – nông dân”, trong đó lòng tin của nông dân là cực kỳ quan trọng. Khi tiến hành chọn điểm để xây dựng mô hình thử nghiệm sản xuất cần phải chú ý đến các công trình nghiên cứu cơ bản trước đó về thổ nhưỡng, khí hậu, thủy văn…, đồng thời chú ý đến trình độ văn hóa cũng như phong tục tập quán của địa bàn ứng dụng mô hình. Ngoài ra, khi chọn hộ nông dân tham gia thực hiện mô hình cần lựa chọn những hộ phải yêu thích khoa học và công nghệ, muốn khám phá cái mới để vươn lên, đồng thời cũng phải chấp nhận những rủi ro không lường trước được. Ông cũng cho rằng, để đưa khoa học và công nghệ về với nông thôn có hiệu quả cao, Nhà nước cần có chính sách thông thoáng khuyến khích việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ, coi đầu tư cho khoa học và công nghệ là đầu tư cho phát triển, luôn thể hiện vai trò tác động, động viên, khuyến khích và cùng chấp nhận rủi ro trong quá trình thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
Tác giả: Thạch Thảo
Nguồn: Báo Khoa học và Phát triển, số 47, ngày 30/11/2005, tr. 10.
********************************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia