Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2005 » Số 51 » Phát triển cơ sở hạ tầng » Hiệu quả chương trình vay vốn giải quyết việc làm ở Bắc Kạn

Hiệu quả chương trình vay vốn giải quyết việc làm ở Bắc Kạn

  
Dạng tài liệu :
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 51/Phát triển cơ sở hạ tầng
Đề mục : 04.51.31
Từ khoá : Vay vốn Giải quyết việc làm
Nội dung:

Bắc Kạn là tỉnh vùng cao với diện tích tự nhiên gần 4.800 km2; dân số xấp xỉ 30 vạn người, trong đó trên 60% là đồng bào dân tộc. Toàn tỉnh có 7 huyện thị bao gồm 122 xã phường, thị trấn, trong đó có tới 103 xã đặc biệt khó khăn và 8 xã nghèo ngoài chương trình 135. Do có địa hình đồi núi bị chia cắt bởi nhiều sông suối, diện tích đất nông nghiệp chiếm chưa đến 7% diện tích tự nhiên, đất lâm nghiệp có rừng chiếm 51% và còn lại là đất đồi núi trọc. Tại thời điểm năm 2001, Bắc Kạn là tỉnh có tỷ lệ đói nghèo vào hàng cao nhất cả nước (trên 33%); 85% dân số sống bằng nghề nông, thu nhập bình quân đầu người dưới 2 triệu đồng/năm… Tất cả những yếu tố trên đã trực tiếp tác động vào công tác giải quyết việc làm ở địa phương.
Với đa phần dân số là người dân tộc, nên có thể nói lao động Bắc Kạn có đặc điểm chăm chỉ, thật thà, chất phác. Tuy nhiên, do có tới 80% lực lượng lao động thuần nông, còn mang nặng tính tự cung, tự cấp, kiến thức hạn chế; đa phần lao động có trình độ hết lớp 9, song nhiều vùng chỉ mới hết lớp 5 lại thiếu đất canh tác, nên tại thời điểm 2001, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nông thôn ở Bắc Kạn chỉ đạt trên 70%, thấp dưới mức bình quân chung cả nước.
Đối với khu vực thành thị, do tỉnh có nhiều khó khăn về cơ sở hạ tầng, điểm xuất phát thấp, số lượng doanh nghiệp có khả năng thu hút lao động ít, ngành nghề chưa phát triển nên tỷ lệ thất nghiệp cũng ở mức khá cao so với cả nước, gần 4,3%. Ngoài ra, còn phải kể đến khả năng đáp ứng yêu cầu về trình độ của lao động cũng như việc tỉnh chưa có trường nghề… đã ảnh hưởng tới khả năng tạo việc làm trong lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.
Trước thực trạng đó, từ năm 2002, Tỉnh uỷ, HĐND và UBND tỉnh Bắc Kạn đã có nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, theo đó, việc làm cho lao động phải được giải quyết thông qua các chương trình phát triển kinh tế, xã hội, phát triển cơ sở hạ tầng khu vực nông nghiệp nông thôn như chương trình 135, 143, 120, chương trình xuất khẩu lao động, chương trình, dự án xây dựng khu công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn tỉnh. Trong các chương trình, kế hoạch nói trên, Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm (Chương trình 120) được xác định là trọng điểm trực tiếp tạo ra công ăn việc làm ổn định nên tỉnh đã tập trung dành nghuồn lực cho các vùng trọng điểm khó khăn, ưu tiên cho vay phát triển sản xuất kinh doanh, mở rộng ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, kinh tế hộ gia đình…
Để công tác triển khai Quỹ 120 có hiệu quả, từ năm 2001 đến nay, Sở Lao động – Thương binh Xã hội đã thường xuyên tham mưu cho UNND tỉnh tổ chức hội nghị đánh giá kết quả thực hiện hàng năm và định hướng nhiệm vụ, giao chỉ tiêu kế hoạch cho các địa phương, các tổ chức đoàn thể, hội quần chúng tham gia chương trình. Trong thực hiện cho vay, cũng đã coi trọng công tác phối hợp với các ngành liên quan như Sở Kế hoạch - Đầu tư, Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng Chính sách xã hội, duy trì các tổ kiểm tra liên ngành, giám sát và đôn đốc các chủ dự án trong sử dụng vốn, đảm bảo đúng mục đích, đạt hiệu quả và thu hút đuowcj nhiều lao động địa phương. Năm 2003, Sở cũng đã tham mưu cho tỉnh ra quyết định phân cấp, uỷ quyền quản lý cho vay nguồn vốn 120 cấp huyện phê duyệt các dự án nhỏ có mức vay dưới 100 triệu đồng, nhằm giảm bớt gánh nặng cho tỉnh cũng như đơn giản hoá và rút ngắn thời gian thẩm định cho vay, bớt phiền hà về thủ tục cho đối tượng vay. Cũng trong năm nay, khi nguồn vốn được chuyển sang hệ thống ngân hàng chính sách, để đón đầu và không làm gián đoạn việc thực hiện cho vay các dự án năm 2004, Sở Lao động – TBXH đã chủ động phối hợp với các bên liên quan thành lập tỏ công tác liên ngành tiến hành tổng hợp, phân loại dự án đang thực hiện và thực hiện việc chuyển giao nhanh gọn, hiệu quả. Cùng với đó, hoạt động tập huấn cho cán bộ Phòng Tổ chức – Lao động Xã hội và Ngân hàng Chính sách xã hội cũng được triển khai kịp thời, đạt tính thống nhất cao trong việc thực hiện các vưn bản hướng dẫn của Trung ương và tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ ngân hàng triển khai nghiệp vụ lập dự án và quản lý cho vay nguồn vốn giải quyết việc làm.
Kết quả và những vấn đề đặt ra
Nhờ những cố gắng trong quá trình chỉ đạo thực hiện như trên, từ năm 2001 đến nay, Chương trình 120 ở Bắc Kạn được đánh giá là đạt hiệu quả cao. Theo báo cáo của Ngân hàng chính sách Xã hội, năm 2004, toàn tỉnh đã cho vay được 265 dự án với tổng số vốn vay gần 14 tỷ đồng, tạo việc làm cho 2.400 lao động.
Như vậy, từ năm 2001 đến nay, toàn tỉnh đã thẩm định và cho vay được trên 40 tỷ đồng cho gần 1000 dự án lớn nhỏ, chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực chăn nuôi, trồng cây công nghiệp và cây ăn quả, trực tiếp tạo việc làm cho gần 1,2 vạn lao động. mỗi năm cho vay từ 200 – 270 dự án, tạo việc làm cho 2000 – 2500 người, trong đó kết quả cả về số dự án, số vốn và lao động có việc làm tăng đều qua từng năm, thường xuyên đạt từ 105 – 115% chỉ tiêu kế hoạch; công tác giải ngân vốn vay cũng được đánh giá là kịp thời và đạt tỷ lệ cao, nhìn chung cuối kỳ đều đạt 97% - 99% theo các quyết định đã được phê duyệt. Năm 2004, tỷ lệ nợ quá hạn là 0,34% tương đương 90 triệu đồng.
Như vậy, trong 5 năm qua, nguồn vốn 120 đã tạo thêm việc làm và việc làm mới cho người lao động. Mặt khác, qua hình thức cho vay vốn theo dự án, người dân được hỗ trợ, khuyến khích đưa thêm vốn nhàn rỗi vào đầu tư sản xuất kinh doanh, làm thay đổi cơ bản nhận thức xã hội về vay vốn và giải quyết việc làm. Nhiều chủ dự án, sau quá trình được vay vốn đã tự biết tìm hướng đi, vươn lên thoát nghèo và làm giàu chính đáng. Chương trình 120 đã đóng góp tích cực vào việc tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động khu vực nông thôn lên gần 79%; giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị xuống còn 3,4%.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác cho vay vốn giải quyết việc làm ở Bắc Kạn cũng còn có những tồn tại, bất cập. Đó là việc thẩm định dự án từ cơ sở ở một số nơi còn chưa chặt chẽ, biên bản còn chung chung, chưa đầy đủ ý kiến của các thành phần tham gia thẩm định theo hướng dẫn của Sở Lao động – TBXH và Ngân hàng Chính sách Xã hội; một số đơn vị tinh thần trách nhiệm chưa cao trong quá trình triển khai thực hiện cho vay vốn, việc cho vay chưa kịp thời dẫn đến mất tính ‘thời vụ” trong làm ăn, phát triển kinh doanh, một số đơn vị ra quyết định cho vay vượt thẩm quyền được phân cấp; nội dung dự án còn sơ sài, thậm chí mang tính sao chép… Tất cả những điều này cộng với năng lực quản lý, tinh thần trách nhiệm chưa cao trong kiểm tra, giám sát nguồn vốn dẫn đến tỷ lệ nợ quá hạn ở một số nơi còn cao hơn so với chỉ tiêu đề ra. Đáng lưu ý, việc đầu tư vốn theo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội còn có sự cênh lệch, các dự án cho tới nay vẫn chủ yếu đầu tư vào chăn nuôi, chiếm tới 60,8% tổng số vốn vay trong khi tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ là lĩnh vực tạo ra nhiều chỗ làm nhất nhưng còn rất ít dự án xin vay vốn và chỉ chiếm 18,9% số vốn vay.
Nhận thức được vấn đề trên và cũng để góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh và mạnh hơn nữa, từ năm nay, bên cạnh các giải pháp chung như tăng cường nhận thức xã hội về vốn vay giải quyết việc làm; tăng cường năng lực cán bộ cơ sở, năng lực giám sát… Sở Lao động – TBXH cũng đang nỗ lực phối hợp cùng Ngân hàng Chính Sách Xã hội tìm ra cơ chế cho vay thuận tiện hơn theo hướng khuyến khích vay vốn đầu tư phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Kế hoạch triển khai việc vay vốn cũng đã được đẩy mạnh tích cực ngay từ đầu năm với tổng nguồn vốn cho vay theo kênh địa phương là khoảng 10 tỷ đồng, dự kiến giải quyết việc làm cho 2000 2500 lao động.
Nguồn: Tạp chí Lao động và Xã hội, Số 264/2005 .
****************************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia