Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2005 » Số 49 » CÁCH LÀM ĂN MỚI » Câu chuyện nhà nông: Người biến đầm hoang thành trang trại nuôi trồng thuỷ sản

Câu chuyện nhà nông: Người biến đầm hoang thành trang trại nuôi trồng thuỷ sản

  
Dạng tài liệu :
Ngôn ngữ tài liệu : eng
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 49/CÁCH LÀM ĂN MỚI
Đề mục : 68.39 Chăn nuôi
68.94 Bảo vệ môi trường trong nông nghiệp
Từ khoá : trang trại nuôi trồng thủy sản chuyện nhà nông
Nội dung:
Sau nhiều năm kiên trì cải tạo đầm lầy, hoang hóa nuôi trồng thuỷ sản, ông Phạm Văn Minh ở xã Liên Vị, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh từ một hội viên nông dân nghèo đã trở thành một chủ trang trại giàu có. Không biết chỉ làm giàu cho mình, gia đình ông còn luôn san sẻ, giúp đỡ vốn, kinh nghiệm làm ăn cho nhiều hộ khác cùng thoát nghèo, vươn lên làm giàu.
Quê ông từ nhiều đời nay, ngoài làm ruộng là nghề sống chính còn có truyền thống quai đê, lấn biển, đắp đầm khai thác nguồn lợi thủy sản. Song, nuôi trồng thuỷ sản chỉ thực sự trở thành một nghề và là ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương từ khi xã thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp trong tỉnh về khuyến khích và giao đất vùng bãi triều cho các hộ sử dụng, nhằm khai thác, phát huy lợi thế tiềm năng vốn có. Được xã giao cho 60ha (năm 1991) ở khu vực bãi triều phía Tây đầm Nhà Mạc, giáp cửa sông Lam Triệu (Hải Phòng), gia đình ông đã hợp tác với 3 hộ khác trong xã vay vốn quỹ hộ nông dân, vốn ngân hàng đầu tư cải tạo đầm lầy. Công trình cải tạo và xây dựng mới khá gian nan, kéo dài hơn 3 năm, với số vốn bỏ ra không ít, bởi quá trình làm liên tục bị tác động của thiên tai, bão lũ, nước triều cường nhất là khi có lượng mưa lớn làm sói lở thân đê, phải làm lại nhiều lần gây tốn kém tiền của công sức. Nhưng với lòng quyết tâm và kiên trì cùng với sự quan tâm động viên, giúp đỡ của tổ chức Hội nông dân trong xã đã giúp ông thành công trong bước đầu khởi nghiệp.
Là người có đầu óc sáng tạo và năng động, luôn học hỏi, tiếp thu, ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đúc rút kinh nghiệm thực tế, nhất là am hiểu về đặc điểm môi trường sinh thái, những đặc thù riêng của vùng bãi triều khu vực đầm Nhà Mạc, ông đã tìm được hướng đầu tư nuôi trồng thuỷ sản hợp lý cho mình và hướng dẫn cho nhiều hộ khác cùng làm. Đó là làm đầm nuôi trồng thuỷ sản phải quy hoạch theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, kết hợp bảo vệ môi trường sinh thái với nuôi quảng canh cải tiến để vừa tận dụng được lợi thế của môi trường tự nhiên và đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất có hiệu quả. Nhiều năm nay, ông tập trung vào nuôi tôm dảo, tôm sú, cá rô phi đơn tính và rau câu. Ông là người đầu tiên mạnh dạn đưa con tôm sú về nuôi và phổ biến cách sản xuất tôm sú giống cho bà con trong xã. Do biết tận dụng được lợi thế của môi trường sinh thái, môi trường tự nhiên của nước và rừng ngập mặn bằng chủ động điều tiết nước qua hệ thống cống tiêu và dẫn nước cùng với ứng dụng kỹ thuật nuôi trồng mới, nên kết quả năng suất, chất lượng và hiệu quả nuôi trồng thuỷ sản luôn đạt cao. Trong đó, tôm sú luôn đạt năng suất từ 50-70 gam/con trở lên, cá rô phi đạt 0,3kg đến 0,7kg/con.
Với 60ha nuôi trồng thuỷ sản, hàng năm ông thu được từ 4-5 tấn tôm dảo, từ 4,5-5 tấn tôm sú, từ 20 đến 25 tấn tôm các loại và từ 500 đến 600 tấn rau câu. Đó là chưa kể một năm ông làm 2 vụ lúa trên diện tích 0,4 ha cũng cho thu nhập đáng kể. Riêng về thủy sản, giá trị thu nhập một năm đạt từ 700-800 triệu đồng, nếu trừ mọi chi phí sản xuất, ông thu lãi từ 300-500 triệu đồng/năm. Trang trại của ông hàng năm đã tạo việc làm thường xuyên cho từ 10-12 lao động, có mức thu nhập trên 1 triệu đồng/người/tháng. Ngoài ra, trong những vụ thu hoạch rau câu, hàng năm còn tạo việc làm cho từ 30-50 lao động, trong thời gian 3 đến 4 tháng liên tục. Hướng làm ăn tới của gia đình ông là tập trung đầu tư nuôi bán thâm canh và tiến tới nuôi thâm canh tăng năng suất, đối tượng nuôi thả chủ yếu là con tôm sú, cá rô phi đơn tính và trồng rau câu để góp phần tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm có chất lượng cao phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu.
Từ kinh nghiệm và kết quả sản xuất của gia đình, ông đã trao đổi, hướng dẫn cho nhiều hộ khác cùng làm theo. Hàng năm, từ nguồn thu nhập ổn định của gia đình, ông đã giúp đỡ thường xuyên cho từ 40-50 hộ vay vốn sản xuất với tổng số tiền từ 300-400 triệu đồng, chỉ bằng sự tín nhiệm của gia đình và hầu hết không tính lãi vì phần đông các hộ này thuộc diện nghèo thiếu vốn sản xuất. Đặc biệt với kinh nghiệm nuôi tôm sú, hàng năm ông đã giúp cho hàng chục hộ sản xuất được 2,5-3 triệu con tôm sú giống P15. Nhiều hộ trong xã, nhờ đó đã thoát nghèo trở thành hộ khá, giàu. Ông và gia đình thường xuyên tham gia các chương trình từ thiện, đền ơn đáp nghĩa, xây dựng Quỹ vì người nghèo, Quỹ khuyến học do Hội Nông dân vận động.
Mong muốn lớn nhất của ông, cũng như bà con nuôi trồng thuỷ sản trong xã là cần được Nhà nước quan tâm tạo điều kiện giao đất ổn định, lâu dài, có sự hỗ trợ để bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven bờ và tài nguyên môi trường, đặc biệt là xử lý nước thải từ các nhà máy công nghiệp; tổ chức các lớp tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân…

Nguồn: Nông thôn mới, số 158, kỳ 1 tháng 8 năm 2005
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia