Giải pháp phát triển ngành công nghiệp chế biến Đồng bằng sông Cửu Long |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Nông thôn đổi mới |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 49/ĐƯỜNG LỐI - CHÍNH SÁCH |
| Đề mục | : | 06.61 Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ. Kinh tế theo vùng |
| Từ khoá | : | đồng bằng sông cửu long ; công nghiệp chế biến |
| Nội dung: | ||
|
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp chế biến (CNCB) phát triển. Tuy nhiên để phát triển tương xứng với tiềm năng và bền vững, ngành CNCBNS cần nhiều giải pháp tích cực thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng.
CNCB phát triển mạnh về quy mô với cơ cấu sản phẩm đa dạng Trong toàn ngành công nghiệp khu vực ĐBSCL, giá trị sản xuất CNCB chiếm tỷ trọng 98,2%, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 18,15%. Với quy mô không ngừng tăng lên, tốc độ tăng trưởng nhanh và cơ cấu sản phẩm đa dạng, ngành CNCB đã góp phần tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ xuất khẩu. Theo báo cáo của các sở công nghiệp khu vực ĐBSCL, ngành CNCB đang phát triển mạnh với hơn 88.800 cơ sở, thu hút 525.596 lao động, giá trị sản xuất năm 2005 ước đạt trên 51.510 tỷ đồng. Đứng chân trên vùng nguyên liệu dồi dào, ngành CNCB chủ yếu tập trung vào các mũi nhọn là công nghiệp chế biến nông sản, thủy hải sản, trái cây, chế biến lương thực, chế biến dầu thực vật... Trong đó, riêng tỷ trọng của ngành chế biến nông sản chiếm trên 30 % so với toàn ngành công nghiệp của vùng, 4 tỉnh thành có tốc độ tăng trưởng nhanh là Bến Tre, Cần Thơ, Kiên Giang và Vĩnh Long. Ngành CNCB thủy hải sản là ngành công nghiệp chủ lực của vùng ĐBSCL, tỷ trọng bình quân hàng năm trong giai đoạn 2001 - 2005 chiếm 52 % tổng giá trị sản xuất công nghiệp và đóng góp 56,4 % trong tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa toàn vùng. Toàn vùng hiện có 133 nhà máy chế biến thủy sản với tổng công suất trên 690.000 tấn / năm phục vụ xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng trong nước. Ngành xay xát lương thực là ngành nghề truyền thống của vùng ĐBSCL, số cơ sở xay xát phân bố đều khắp các tỉnh thành, sử dụng các hệ máy đa dạng như: loại công suất 8 đến 15 tấn/ ca do các nhà máy tư nhân đầu tư xay xát thóc gạo phục vụ thị trường tại chỗ và nội địa; loại từ 15 đến 30 tấn/ca do các công ty lương thực đầu tư cùng với trang bị dây chuyền hiện đại tách tấm, đánh bóng và phân loại phục vụ xuất khẩu gạo. Với sản lượng cây ăn quả đạt trên 2 triệu tấn/ năm, ngành chế biến trái cây, rau quả cũng là thế mạnh của công nghiệp ĐBSCL, diện tích vườn cây tập trung ở 6 tỉnh trọng điểm là Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Hậu Giang và Sóc Trăng chiếm 74 % diện tích trồng cây ăn quả của cả vùng. Ngành chế biến trái cây hiện có 3 nhà máy chế biến lớn ở tỉnh Tiền Giang, Kiên Giang và Vĩnh Long. Riêng ngành chế biến cây có dầu chủ yếu là chế biến dừa và các sản phẩm từ dừa đang phát triển mạnh ở 2 tỉnh Bến Tre và Trà Vinh với các sản phẩm đa dạng như dầu dừa, cơm dừa sấy, tơ xơ dừa, thảm xơ dừa, than gáo dừa, than họat tính, hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa... Hiện nay, tỉnh Bến Tre là trung tâm chế biến dừa của khu vực với trên 6.230 đơn vị họat động chế biến sản phẩm từ dừa và đang thu hút 2 doanh nghiệp SriLanka và Malaysia đầu tư 9 triệu USD với công suất thiết kế 24.000 tấn/năm, khai thác thế mạnh địa phương và đa dạng sản phẩm xuất khẩu. Bên cạnh các ngành chủ lực trên, ngành CNCB ĐBSCL còn phát triển các nhóm ngành sản xuất đường, sản xuất nước giải khát... Cùng với sự hình thành của 111 khu, cụm công nghiệp, các tỉnh khu vực ĐBSCL đã triển khai thực hiện nhiều chính sách khuyến khích thu hút đầu tư phát triển ngành CNCB trong đó ưu tiên cho nhóm ngành chế biến nông sản. Đồng thời, tỉnh hình thành các trung tâm khuyến công nhằm gắn kết họat động khuyến công của địa phương với quỹ khuyến công quốc gia thu hút vốn của các thành phần kinh tế đầu tư vào ngành CNCB. Còn tiềm ẩn yếu tố chưa bền vững Ngành CNCB khu vực ĐBSCL đang đứng trước thách thức là sự gia tăng áp lực cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu và ngay cả thị trường nội địa, đồng thời trong từng nhóm ngành sản xuất cũng tiềm ẩn nhiều khó khăn. Ngành xay xát lương thực do chưa chủ động trong khâu sấy bảo quản và tồn trữ nên các nhà máy xay xát và lau bóng chỉ tập trung hoạt động vào các tháng mùa vụ. Qua khảo sát, sản lượng lúa vùng ĐBSCL được sấy hiện chỉ chiếm 31 % tổng sản lượng lúa của toàn vùng, tổn thất sau thu hoạch trên 10 %, ảnh hưởng đến việc chủ động nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến. Họat động của các nhà máy chế biến trái cây, rau quả đang gặp nhiều khó khăn do nguồn nguyên liệu tuy dồi dào nhưng chất lượng và kích cỡ, màu sắc, mùi vị... chưa đáp ứng được yêu cầu chế biến và thị hiếu của người tiêu dùng. Quy mô sản xuất nhỏ, thiếu thị trường, khó khăn trong khâu vận chuyển khiến giá thành cao nên chưa tạo ra được sản phẩm có tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Tỷ trọng CNCB so với tiềm năng và sản lượng vùng nguyên liệu hiện có còn thấp nên chưa tác động mạnh đối với việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chủ yếu là chế biến những gì hiện có chứ chưa định hướng theo nhu cầu thị trường, chưa có chiến lược tạo vùng nguyên liệu lâu dài hướng đến phát triển họat động sản xuất kinh doanh bền vững. Hiện nay, phần lớn các đơn vị sản xuất theo kinh nghiệm truyền thống, trình độ công nghệ thấp và hiệu suất sử dụng thiết bị chưa cao, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu ở dạng sơ chế cùng với chưa quan tâm xây dựng thương hiệu mạnh là những yếu tố khiến ngành CNCB ĐBSCL phát triển nhưng chưa bền vững. Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển Với mục tiêu đến năm 2010, giá trị sản xuất ngành CNCB ĐBSCL tăng gấp 2,5 lần so với hiện nay, các tỉnh trong khu vực tập trung phát triển những nhóm ngành sản xuất có lợi thế cạnh tranh, có nhu cầu thị trường lớn trong và ngoài nước như chế biến lương thực, thực phẩm sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ. Để đạt mục tiêu trên, việc đầu tư phát triển ngành CNCB dựa trên cơ sở quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của vùng, tạo quan hệ gắn bó giữa vùng nguyên liệu với cơ sở chế biến, gắn chuyển dịch cơ cấu cây trồng với phát triển CNCB để tạo đầu ra cho nông sản hàng hóa. Các doanh nghiệp xây dựng mạng lưới cơ sở vệ tinh, đa dạng hóa quy mô và loại hình sản xuất thu hút mọi thành phần kinh tế đầu tư vào ngành CNCB. Cùng với các giải pháp xây dựng vùng nguyên liệu, xây dựng thương hiệu mạnh, có chính sách tín dụng ưu tiên các doanh nghiệp ngành CNCB được vay vốn từ nguồn tín dụng ưu đãi, việc phát triển ngành CNCB cần có sự phân công giữa các tỉnh để tránh sự phát triển trùng lắp. Ngoài ra, các tỉnh chú trọng tính liên kết vùng tiến đến hình thành Hiệp hội chế biến trong từng nhóm ngành trọng điểm như xay xát lương thực, chế biến trái cây, xây dựng các dự án với quy mô lớn có hiệu quả cao tạo ra sản phẩm thế mạnh đặc trưng của vùng, qua đó thúc đầy ngành CNCB phát triển tương xứng với tiềm năng và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực ĐBSCL. Nguồn: Sản xuất và Thị trường, số 42, 14-20/10/2005 |
||
