Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2005 » Số 48 » Đường lối - Chính sách » Nước sạch và vệ sinh môi trường Lai Châu - Thực trạng và giải pháp

Nước sạch và vệ sinh môi trường Lai Châu - Thực trạng và giải pháp

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 48/Đường lối - Chính sách
Đề mục : 70.27 Chất lượng nước
70.19 Cấp dẫn nước và cung cấp nước
Từ khoá : Nước sạch Vệ sinh Môi trường
Từ khoá phụ : Giải pháp
Nội dung:
Nước sạch là một nhu cầu rất cơ bản, có tính chất sống còn trong đời sống của mọi người, mọi dân tộc và mọi quốc gia, cuộc sống càng cao thì nhu cầu về sử dụng cũng tăng theo.Tuy nhiên, không phải mọi người đều nhận thức được rằng nước là một tài nguyên có hạn, nguồn nước không bị ô nhiễm là một tài nguyên rất quý, nước sạch đáp ứng cho đời sống con người là loại hàng hoá có chính sách bảo vệ, sử dụng hợp lý tài nguyên nước và có chính sách cấp nước sạch theo nhu cầu của từng vùng khác nhau.
Địa hình Lai Châu cấu tạo địa chất nhiều hang động Karst nên khả năng giữ nước bề mặt rất kém, vì vậy việc thiếu nước sinh hoạt tại các thị tứ, thị trấn, các khu vực tái định cư và Thị xã Lai Châu rất nghiêm trọng, đặc biệt là vào mùa khô. Hiện tại, tỷ lệ số dân được cấp nước sinh hoạt chiếm khoảng 40 %, người dân chủ yếu dùng nước giếng, sông, suối để sinh hoạt và sản xuất. Nước không đảm bảo vệ sinh lại thường xuyên thiếu nước về mùa khô.
Trước thực trạng trên, cần có những biện pháp thích hợp để giải quyết khó khăn trước mắt và đảm bảo cung cấp nước lâu dài cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trong tỉnh.
Biện pháp giải quyết khó khăn trước mắt:
1. Tận dụng nguồn nước mưa
Nhân dân chủ yếu khai thác nguồn nước mặt làm nước sinh hoạt, không qua xử lý nên không đảm bảo vệ sinh, mặt khác vào mùa khô, tình trạng thiếu nước xảy ra thường xuyên, nhưng vào mùa mưa một lượng lớn nước bị bỏ phí, sau khi mưa, nước thường ngấm hết xuống lòng đất (do cấu tạo địa chất nhiều hang động karst) để tận dụng nguồn nước này, mỗi hộ gia đình có thể tự xây hệ thống thu gom nước mưa và xử lý sơ bộ trước khi sử dụng.
Hệ thống thu gom nước mưa là hệ thống sử dụng ống và máng để hứng, dẫn nước mưa từ mái nhà hoặc từ các mái hứng khác để vào bể chứa. Có 3 loại hình chứa nước mưa được sử dụng phổ biến:
+ Lu chứa làm bằng vữa xi măng, đất nung, bột đá.
+ Bể chứa bằng xi măng cốt thép hình trụ hoặc khối
+ Bể chứa xây bằng gạch chỉ và chát vữa xi măng.
* Vật liệu và cách xây dựng:
- Loại lu đất nung dung tích thường nhỏ, chứa được ít nước
- Loại xây bằng gạch chỉ: Bên trong bể được chát vữa xi măng tốt để chống thấm. Bể xây chìm, hoặc nửa chìm nửa nổi hoặt nổi lên mặt đất có nắp đậy kín vững chắc.
- Bể xây bằng đổ bê tông vào khuôn hình trụ hoặc hình khối để chống rò rỉ nước khi nhiệt độ thay đổi.
- Phần trên của bể có phần lọc bằng cát để loại bụi và lá cây trước khi nước vào bể.
- Phần máng hứng có thể làm bằng tôn gò hoặc thân cây tre, cây cau.
* Hướng dẫn sử dụng:
- Không nên hứng nước vào từ những trận mưa đầu tiên vì lẫn nhiều tạp chất
- Máng thu nước nên được lật úp lại sau cơn mưa để tránh đọng lá cây và bụi
- Thường xuyên kiểm tra và bổ sung cát lọc vào bể thô
- Nước trong bể nên được dẫn ra bằng vòi hoặc bằng bơm
- Khi bể cạn nên thau rửa sạch sẽ
- Phải đun sôi trước khi uống
- Nên cho thuốc khử trùng như Chloramin B vào bể chứa nước mưa trước khi sử dụng (thông thường 25 mg/25lít nước).
2. Khai thác nước ngầm:
Khai thác nước ngầm thông qua hệ thống giếng khoan, độ sâu từ 60 m – 250 m. Giếng có thể khoan bàng tay hoặc bằng máy. Ưu điểm của nước giếng khoan ít nhiễm vi khuẩn gây bệnh nhưng nhiều giếng khoan thường chứa chất hoà tan làm chất lượng nước không tốt cho sinh hoạt và ăn uống, trong đó sắt (ion Fe2+) thường có hàm lượng cao (làm nước có mùi tanh, màu vàng), vì vậy trước khi sử dụng cũng cần xử lý sơ bộ.
Phương pháp khử sắt thông thường là phương pháp làm thoáng, sau đó là lắng, lọc.
Bể lọc nước: Kỹ thuật lọc nhanh thường được sử dụng cho các nguồn nước ngầm chứa sắt hoà tan dưới dạng vô cơ (ion Fe2+. Nước giếng khoan cho vào lu chứa, dùng tay khuấy nhiều vòng (giống như khuấy lắng phèn nhưng không dùng phèn) để đưa ôxy vào làm cho sắt hoà tan phản ứng với ôxy thành sắt lắng xuống đáy.
Tạo dàn mưa: Bơm nước giếng vào hệ thống ống nhựa có đục lỗ để tạo thành tia nước giống như các giọt nước mưa. Khi chia nước nhỏ ra thành các dòng nước mưa sẽ tạo điều kiện tiếp xúc với nhiều ô xxy trong không khí tạo thành cặn sắt lắng xuống. Nước rơi xuống được đưa vào bể, lu, để lắng qua ngày sẽ tách được phần lớn sắt.
Chú ý: Không nên sử dụng trực tiếp nước giếng khoan, cần trữ lại dể tiếp xúc loại mùi, vị, cặn, chất tan. Nên đun sôi nước giếng để uống vì như vậy sẽ loại bỏ thêm một số chất tan trong nước giếng (khi đun nóng một số chất bị kết tủa).
Biện pháp đảm bảo cung cấp lâu dài:
Để đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt đảm bảo vệ sinh cho nhân dân, hướng tới chất lượng cuộc sống ngày càng cao Sở Tài nguyên và Môi trường Lai Châu đã tham mưu UBND tỉnh đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục địa chất và Khoáng sản Việt Nam tạo điều kiện giúp đỡ kinh phí, nhân lực để lập và thực hiện dự án điều tra, đánh giá tài nguyên nước tại một số khu vực trọng điểm để có cơ sở tiến hành xây dựng các trạm khai thác xử lý nước cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân, bao gồm các khu vực sau:
1.Khu vực thân thuộc, thị trấn than Uuyên - huyện Than Uyên,
2. Khu vực thị trấn Tam Đường - huyện Tam Đường
3. Khu vực thị xã Lai Châu
4. Khu vực thị trấn Phong Thổ, huyện Phong Thổ
5. Khu vực thị trấn Sìn Hồ - huyện Sìn Hồ
6. Khu vực thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè
Nước sạch là một nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, cần sử dụng nước sạch cho ăn uống và sinh hoạt để đảm bảo sức khoẻ cho nhân dân.
Nguồn: Ấn phẩm Thông tin Khoa học và Công nghệ Số 2/2005
***************************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia