Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2005 » Số 47 » I. Đường lối, chính sách » Một số gợi ý về chính sách phát triển nuôi tôm bền vững

Một số gợi ý về chính sách phát triển nuôi tôm bền vững

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 47/I. Đường lối, chính sách
Đề mục : 69.09 Tài nguyên thuỷ sản. Nuôi trồng thuỷ sản
Từ khoá : Nuôi tôm Chính sách Gợi ý Nuôi trồng thủy sản Thủy sản
Từ khoá phụ : Phát triển
Nội dung:
Có thể nói phát triển nuôi tôm ở Việt Nam trong 5 năm qua thiên về số lượng, chưa chú trọng nhiều tới chất lượng phát triển. Để đảm bảo nâng cao chất lượng phát triển, ngoài việc triển khai các chủ trương, chính sách Chính phủ đã ban hành, việc bổ sung, điều chỉnh các chính sách, hướng tới phát triển bền vững là rất cần thiết. Dưới đây xin đề xuất một số gợi ý về chính sách phát triển nuôi tôm bền vững.
1. Đẩy mạnh phát triển, ứng dụng, chuyển giao và phổ biến công nghệ nhằm chủ động cung cấp đủ nguồn giống sạch bệnh, nâng cao hiệu quả sản xuất nuôi trồng, giảm thiểu chi phí sản xuất, sản phẩm có chất lượng cao, nâng cao khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế.
Chương trình phát triển giống thủy sản đến năm 2010, được Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 112/2004/QĐ-TTg, đã đặt ưu tiên hàng đầu cho đề án “Phát triển công nghệ nuôi thành thục tôm sú bố mẹ và sản xuất giống có chất lượng cao”. Do vậy, việc hoàn thành chỉ tiêu đến năm 2010, Việt Nam có thể sản xuất được 35 tỉ con tôm giống sẽ phụ thuộc nhiều và kết quả của công tác tái tạo, bảo vệ nguồn lợi tôm tự nhiên.
2. Tăng cường công tác quy hoạch, pháp chế hóa công tác quy hoạch, phổ biến rộng rãi các phương pháp và phương án quy hoạch cho tất cả các đối tượng có liên quan và quản lý phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững theo quy hoạch.
Trong quy hoạch nên chú ý tính toán và dự báo đầy đủ các yếu tố, không nên chỉ tập trung vào quy hoạch sử dụng đất và xây dựng cơ sở hạ tầng. Quy hoạch nuôi trồng thủy sản cần được lồng ghép với các quy hoạch phát triển kinh tế vùng biển và chú ý đến các yếu tố biến động về thị trường, các tiêu chuẩn chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và thương hiệu. Vào thời điểm hiện nay cần hạn chế việc quy hoạch mở rộng diện tích nuôi trồng, đồng thời xem xét các phương án cải tạo môi trường và chuyển đổi các vùng nuôi trồng không hiệu quả sang các mục đích sử dụng khác.
3. Kiện toàn hệ thống quản lý, nâng cao năng lực, tăng cường sự tham gia của các bên liên quan trong công tác quản lý thông qua quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của bộ máy nhà nước các cấp, các cơ quan chuyên ngành, các đối tượng có liên quan đến hoạt động nuôi tôm.
Triển khai thông qua các nghị định hướng dẫn thực hiện luật thủy sản. Nâng cao năng lực cho ngành thủy sản cần kiện toàn tổ chức thể chế, củng cố về mạng lưới quản lý thủy sản và phát triển nguồn nhân lực. Phát triển nuôi tôm diễn ra trong bối cảnh Chính phủ triển khai cải cách hành chính, tinh giản biên chế. Mạng lưới tổ chức cán bộ ngành thủy sản bị gián đoạn trong khi nuôi trồng phát triển với tốc độ nhanh mang theo nhiều đặc tính phức tạp. Ở các cấp cơ sở như xã, huyện năng lực quản lý nuôi trồng thủy sản rất yếu kém, thiếu cán bộ có chuyên môn, thiếu biên chế. Việc này đã cản trở công tác quản lý của ngành. Hơn nữa ở các nước công nghiệp, các nước đã phát triển, người sản xuất đều tham gia các hiệp hội để tăng sức cạnh tranh và nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường chung. Ở Việt Nam có hàng trăm nghìn hộ gia đình nuôi không hề tham gia vào các mạng lưới, tổ chức nào cả, do đó các văn bản pháp luật của Chính phủ không thể triển khai để điều chỉnh để đảm bảo phát triển bền vững. Cách tốt nhất là cần có các chính sách để khuyến khích, hướng dẫn và đẩy mạnh công tác tổ chức quản lý theo cơ chế từng cụm nhóm cộng đồng tự quản và từng bước tái lập các liên minh hợp tác xã kiểu mới.
4. Điều chỉnh hệ thống luật pháp, chính sách, quy định quản lý phát triển thủy sản hướng tới nền kinh tế thị trường hoàn hảo, ngang tầm khu vực và quốc tế. Tăng cường, cải thiện các mối liên kết giữa các bên có liên quan trong ngành nuôi tôm, đảm bảo nâng cao hiệu quả dây chuyền sản xuất và tiêu thụ tôm.
5. Tăng cường các chính sách quản lý, giảm thiểu các tác động bất lợi về môi trường, kinh tế xã hội trong ngành nuôi tôm như chú trọng tác động của nuôi tôm đến xóa đói giảm nghèo, phân phối công bằng lợi ích thu được từ nuôi tôm, đánh giá tác động môi trường, quản lý môi trường trong phát triển nuôi tôm.
6. Xây dựng và triển khai các chính sách khuyến khích phát triển cơ chế quản lý nuôi tôm dựa vào cộng đồng, đảm bảo phát triển bền vững nghề cá nhân dân. Việc quản lý nuôi tôm bền vững cần kết hợp cả 2 cơ chế, quản lý nhà nước và quản lý cộng đồng. Đã có một số văn bản cơ bản của các Bộ, Ngành khác như Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa Thông tin, Bộ Nội vụ điều chỉnh các mối quan hệ trong cộng đồng, cụm, tổ, khối, xóm dân cư nhưng các chính sách này chưa được cụ thể hóa trong quản lý ngành thủy sản. Việt Nam cần đưa người nuôi tôm vào các tổ chức cộng đồng để họ tự kiểm soát lẫn nhau, tăng cường khả năng quản lý và khả năng cạnh tranh trước thềm hội nhập. Việc này có thể triển khai đồng loạt nhưng linh hoạt, từ việc tập hợp người dân thành từng tổ chức nhỏ, đến các tổ chức lớn có tư cách pháp nhân. Phát triển hệ thống tổ chức quản lý cộng đồng cần có sự hướng dẫn chuyên môn từ ngành thủy sản và sự ủng hộ của chính quyền cấp cơ sở.
Về trước mắt, trên các nền chủ trương, chính sách phát triển nuôi trồng thủy sản hiện tại, Việt Nam cần tăng cường đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học công nghệ (ưu tiên những nghiên cứu trọng điểm: thuần hóa tôm bố mẹ, chọn giống tôm sạch bệnh, các mô hình nuôi trồng tốt...), đẩy mạnh công tác khuyến ngư phổ biến kỹ thuật công nghệ cho người nuôi, thắt chặt công tác quản lý chất lượng con giống, quản lý môi trường...
Về lâu dài, cần mạnh dạn rà soát quy hoạch, cắt bỏ, chuyển diện tích nuôi trồng không hiệu quả sang các hoạt động khác như trồng rừng, phục hóa môi trường; tăng cường lồng ghép quy hoạch nuôi trồng thủy sản vào quản lý tổng hợp vùng bờ, tái tạo nguồn tôm bố mẹ...
Tác giả: Trần Văn Nhường, Bùi Thị Thu Hà
Nguồn: Bản tin chuyên đề Phát triển nuôi tôm bền vững, số 2/2005, tr. 19 – 22.
********************************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia