Gia Lai: Tăng cường công tác chuyển giao khoa học - kỹ thuật cho nông dân |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Nông thôn đổi mới |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 44/IV. Phát triển cơ sở hạ tầng |
| Đề mục | : | 68.85 Cơ khí hoá và điện khí hoá nông nghiệp |
| Từ khoá | : | Chuyển giao khoa học kỹ thuật ; Nông dân |
| Nội dung: | ||
|
Gia Lai là một tỉnh miền núi biên giới có diện tích tự nhiên gần 16.000 km2, dân số là 1.100.000 người trong đó dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 49,5%. Hiện nay, nền nông – lâm nghiệp của tỉnh còn đan xen rất nhiều hình thức, trình độ canh tác khác nhau, đặc biệt là vùng nông thôn đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vẫn còn phổ biến phương thức sản xuất chọc trĩa, trình độ canh tác lạc hậu, đời sống đói nghèo, bệnh tật luôn song hành. Nhận thức vấn đề này, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, ngành nông nghiệp – lâm nghiệp tỉnh Gia Lai đã thực hiện các quá trình chuyển đổi sản xuất từ quảng canh sang thâm canh, từ sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa. Trung tâm khuyến nông – lâm tỉnh đã ra đời, xác định những nhiệm vụ cơ bản vừa sát đúng với thực tiễn vừa tích cực nhạy bén, với 3 mô thức hoạt động chính thức là: hướng dẫn kỹ thuật canh tác cho nông dân; Xây dựng mô hình trình diễn làm thử, làm mẫu, hội nghị đầu bờ; Cung cấp các loại dịch vụ giống cây trồng, vật nuôi cho sản xuất và tư vấn khoa học - kỹ thuật.
Từ ngày thành lập đến nay, Trung tâm khuyến nông – lâm của tỉnh đã góp phần tích cực tạo ra bước nhảy vọt trong sản xuất và năng suất sản lượng lương thực, thực phẩm trên địa bàn toàn tỉnh, nâng cao đời sống và mức thu nhập cho nhân dân, đáng kể nhất là các chương trình bắp lai, bò lai, heo nạc, điều ghép và giống lúa mới... Từ một tỉnh phải nhập lương thực, hàng năm Nhà nước phải cứu đói, đến nay Gia Lai đã tự cung cấp được lương thực và có dự trữ. 10 năm qua cũng là thời kỳ đánh dấu những thành quả vượt bậc trong canh tác cây lúa, nhất là sản xuất lúa đông xuân, giống năng suất cao. Trên 80% số hộ gia đình người dân tộc thiểu số trong toàn tỉnh đã biết canh tác lúa nước thâm canh đạt năng suất 7 – 9 tấn vụ/ha (1 năm 2 vụ lúa, 1 vụ màu), gấp 4 – 6 lần năng suất lúa rẫy. Điển hình như Ama Bon làng Plei Athai; Ama H Ni khối phố 7 - thị trấn Phú Thiện – Ayun Pa; Ama H Nhơh làng Plei Tel-Ia Sol – Ayun pa... và rất nhiều hộ gia đình khác trong huyện và tỉnh, hàng năm thu nhập từ lúa, hoa màu, cây công nghiệp và chăn nuôi quy ra thành tiền trên 50 triệu đồng/năm. Với chương trình lai tạo giống cây trồng, vật nuôi, hệ thống khuyến nông – lâm tỉnh đã thực sự tạo ra một cuộc cách mạng về năng suất, sản lượng và hiệu quả trong canh tác nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi góp phần tích cực “xóa đói giảm nghèo”, tạo điều kiện cho nông dân vươn lên làm giàu từ đất. Như bắp lai, tuy mới đưa vào từ năm 1994 (toàn tỉnh mới có 400 ha bắp lai), đến năm 2004 tổng diện tích bắp lai lên đến 50.000 ha, gấp 125 lần, đứng thứ ba các tỉnh phía Nam (sau Đăk Lăk và Đồng Nai). Nếu bắp địa phương (truyền thống) năng suất chỉ đạt 1 – 2 tấn/ha, thì bắp lai có thể cho năng suất 3 – 4 tấn/ha và cao hơn nữa nếu người nông dân biết đầu tư canh tác đúng kỹ thuật. Bò lai tuy đã được chú trọng rất sớm từ thời bao cấp trong hệ thống các trại chăn nuôi của Nhà nước, song vẫn chỉ tập trung ở một số vùng như nông trường Hà Tam - huyện Đăk Pơ là chủ yếu. Sau thời kỳ chuyển đổi cơ chế, công tác lai cải tạo đàn bò trên địa bàn có thời điểm hầu như chững lại. Từ năm 1994 đến nay, sau khi được thành lập, với sự hỗ trợ nhiều mặt của các dự án, trung tâm khuyến nông – lâm nghiệp đã thật sự đảm trách vai trò chủ công, khởi động lại chương trình bò lai trên diện rộng toàn tỉnh. Hiện nay, toàn tỉnh đã đạt tỷ lệ bò lai 35% tổng đàn bò, với biện pháp hỗ trợ chi phí lai tạo giống, hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, đặc biệt là kỹ thuật vỗ béo. Chương trình bò lai đã tạo được một tập quán chăn nuôi bò năng suất cao, hiệu quả lớn, cho thu nhập và sức kéo trong sản xuất, nhất là các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu (xã vùng III) vùng xa như ở xã Ia Mlăk, Đất Bằng, Krong Nang - huyện Krong Pa; xã Hơ Bong - huyện Chư Sê; xã Chư A thai, xã Ia Sol - huyện Ayun Pa, huyện An khê, huyện Kon Chro. Nhờ chương trình này, hiện tại người nuôi bò đã có thu nhập khá cao so với địa bàn nông thôn, mỗi con bê lai trên 1 năm tuổi có thể bán được trên dưới 10 triệu đồng, cá biệt có những con bò cái lai tốt với giá bán 20 triệu đồng. Theo tính toán của một số chuyên gia, trong điều kiện của Gia Lai, nếu một con bò lai giống tốt, hàng năm có thể cho thu nhập cao hơn gấp 2 – 3 lần trồng trọt trên 1 ha đất cạn. Ngoài chương trình bò lai, còn có dê bách thảo, cừu đang được mở rộng trong chăn nuôi. Ngoài ra còn có các chương trình heo lai, điều ghép, các loại cây công nghiệp, cây ăn quả có giá trị cao.... đã thực sự mở ra một hướng sản xuất tích cực, trong điều kiện tận dụng đất hoang, đất rừng nghèo sẵn có, làm giảm sức ép đất canh tác nông nghiệp tiến tới làm giàu. Chính vì vậy, nhiều hộ nông dân đã trở thành triệu phú (trong đó có cả hộ nông dân là dân tộc thiểu số) đã mua sắm được máy móc thiết bị phục vụ sản xuất có giá trị lớn (máy cày kéo, máy tuốt lúa, máy gặt liên hợp nhỏ...), phương tiện sinh hoạt làm nhà ở khang trang, kiên cố, có một phần tích luỹ và chi phí cho con cái học hành. Như vậy, việc chuyển giao, ứng dụng khoa học kỹ thuật cho nông dân đã tạo ra bước đột biến về năng suất hiệu quả kinh tế, nhất là khu vực nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số. Kết quả trên chứng tỏ đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủ đã thật sự phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và chiến lược phát triển của đất nước. Đây cũng là thước đo của sự cố gắng, nỗ lực của toàn ngành nông – lâm nghiệp và nhân dân các dân tộc ở Gia Lai. Song thành quả này mới chỉ là bước đầu. Vấn đề là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn đang đặt ra cho Gia Lai nhiều nhiệm vụ nặng nề, đó là đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, phát triển nhân tài, xây dựng các ngành kinh tế mũi nhọn... Đây là những vấn đề cần có sự hỗ trợ về kinh tế - kỹ thuật, sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Nhà nước, và sự nỗ lực không ngừng của Gia Lai. Tác giả: Ama Săk, Phó khoa Nhà nước – Pháp luật, trường Chính trị tỉnh Gia Lai. Nguồn: TC Khoa giáo, số 3/2005, tr. 36 - 37. ******************************** |
||
