Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Vĩnh Phúc theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Nông thôn đổi mới |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 44/I. Đường lối, chính sách |
| Đề mục | : |
68.99 Các vấn đề khác của nông nghiệp và lâm nghiệp
68.85 Cơ khí hoá và điện khí hoá nông nghiệp |
| Từ khoá | : | Kinh tế nông nghiệp ; Chuyển dịch cơ cấu ; Công nghiệp hóa ; Hiện đại hóa |
| Nội dung: | ||
|
Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc vùng châu thổ sông Hồng, cửa ngõ Tây Bắc của thủ đô hà Nội. Năm 1997, khi mới tái lập, Vĩnh Phúc là một tỉnh thuần nông, diện tích tự nhiên 1.371 km2; dân số hơn 1,1 triệu người, GDP bình quân đầu người chỉ bằng 48% GDP bình quân đầu người của cả nước; tổng thu ngân sách địa phương dưới 100 tỷ đồng. Với nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh, những năm 2000 – 2003 tốc độ tăng trưởng kinh tế đã đạt 17,3%/năm, năm 2004 tăng lên 17,5%; năm 2003 thu ngân sách gần 2.000 tỷ đồng; năm 2004 đạt 2.388 tỷ đồng. Vĩnh Phúc là một trong 10 tỉnh có tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh nhất so với các tỉnh khác trong nước. Tháng 8/2004, Vĩnh Phúc được Chính phủ xếp vào một trong những tỉnh trọng điểm của kinh tế phía Bắc.
Xuất phát từ đặc điểm đất hẹp, người đông, nông nghiệp là ngành kinh tế chính, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đã ra Nghị quyết số 10/NQ/TU về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thời kỳ 2001 – 2005. Nghị quyết đã đánh giá thực trạng và kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ khi tái lập tỉnh đến năm 2001, chỉ rõ những thành tựu và hạn chế, từ đó đề ra phương hướng, mục tiêu, giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thời kỳ 2001 – 2005 nhằm xây dựng và phát triển kinh tế nông nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hướng tới một nền nông nghiệp sạch, phát triển bền vững. Nâng cao năng suất, giảm một cách hợp lý và chuyển dần diện tích cây lương thực sang các cây trồng khác và nuôi trồng thủy sản có giá trị kinh tế cao. Ưu tiên phát triển 6 loại cây: lúa, ngô, dâu tằm, rau, hoa, cây ăn quả và 3 loại con: lợn, bò, thủy sản; tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp bình quân hàng năm là 5,5 – 6%; sản lượng lương thực đạt 40 vạn tấn/năm, giá trị xuất khẩu đạt 10 triệu USD trở lên. Nhờ những nỗ lực trong lãnh đạo, nông nghiệp Vĩnh Phúc trong những năm 2001 – 2004 có bước tăng trưởng đáng kể. Giá trị sản xuất nông – lâm nghiệp đã đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 7,7%/năm. Ngành trồng trọt của tỉnh đã chuyển từ độc canh cây lương thực sang đa dạng hóa cây trồng; hình thành một số vùng tập trung chuyên canh như vùng trồng dâu tằm ở Yên Lạc, Vĩnh Tường; vùng rau, hoa ở Mê Linh; vùng cây ăn quả ở Lập Thạch, Tam Dương... Năm 2003, tỉnh đã chỉ đạo chuyển 4.000 ha đất trồng lúa sang phát triển công nghiệp, trồng cây công nghiệp, nuôi trồng thủy sản. Cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống cây trồng có sự chuyển đổi cơ bản. Tỉnh Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh dẫn đầu miền Bắc về sản xuất 3 vụ, trong đó vụ Đông là vụ sản xuất hàng hóa. Năm 2003, vụ Đông chiếm 60% diện tích canh tác. Diện tích ngô lai đã chiếm 97% diện tích trồng màu; việc tích cực đầu tư thâm canh, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất đã làm cho năng suất các loại cây trồng đều tăng. Năng suất lúa vụ Xuân năm 2003 đã đạt 50,3 tạ/ha. Ngành trồng trọt đã sản xuất đủ lương thực cho nhu cầu tiêu thụ của dân trong tỉnh và có lương thực dự trữ. Bình quân lương thực đầu người năm 2004 đạt 366,64 kg (năm 1997 là 288,6 kg). Đối với ngành chăn nuôi, tỉnh đã chỉ đạo nâng tỷ trọng, đưa chăn nuôi lên thành ngành sản xuất chính trong nông nghiệp; phát triển nuôi bò sữa, nuôi lợn hướng nạc xuất khẩu, gà công nghiệp, vịt siêu trứng, siêu thịt, ngan Pháp, tôm càng xanh... có giá trị kinh tế cao. Đến nay, trên địa bàn 7 huyện, thị của tỉnh dã hình thành nhiều mô hình trang trại chăn nuôi lợn siêu nạc xuất khẩu với 92 trang trại. Nuôi trồng thuỷ sản phát triển khá và được xác định là mũi nhọn đột phá trong chương trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Trong lâm nghiệp, tỉnh chỉ đạo đẩy mạnh công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng, đã trồng mới trên 3.000 ha rừng tập trung, 800.000 cây phân tán, nâng độ che phủ rừng từ 19% năm 2000 lên 23% năm 2004. Những năm gần đây, tỉnh đã triển khai trồng tre lấy măng xuất khẩu, thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lâm nghiệp, đẩy mạnh tốc độ che phủ rừng, tăng thu nhập cho hộ làm lâm nghiệp, cải tạo môi sinh. Nhờ đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nên mặc dù tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế giảm, nhưng sản xuất nông, lâm, thủy sản lại tăng cao nhất từ trước đến nay về năng suất và sản lượng. Năm 2004 sản lượng lương thực đạt 44 vạn tấn. Nông nghiệp Vĩnh Phúc hiện đang chú trọng phát triển mạnh vào 6 loại cây và 3 loại con chủ đạo. Kinh tế trang trại và vườn đồi của Vĩnh Phúc ngày càng phát huy hiệu quả kinh tế. Hiện nay cả tỉnh đã có gần 500 trang trại, trong đó Mê Linh có 149 trang trại, Vĩnh Tường có 51 trang trại, Lập Thạch có 50 trang trại, Tam Dương có 46 trang trại... Các trang trại tập trung sản xuất một số cây trồng, vật nuôi có tính đặc thù của địa phương. Trang trại vườn đồi trồng cây lâu năm chiếm 14,3%; nuôi trồng thủy sản là 26,1%; sản xuất kinh doanh tổng hợp là 33%. Tổng số vốn sản xuất của các trang trại đạt 40,5 tỷ đồng. Kinh tế trang trại góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh. Để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tỉnh đã chỉ đạo tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp. Quy trình và kỹ thuật thâm canh được chuyển giao tích cực và sâu rộng đến từng hộ nông dân với sự tham gia tích cực của các tổ chức đoàn thể như Hội nông dân, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội cự chiến binh.... Công nghệ sinh học được áp dụng vào sản xuất lúa, nấm ăn, rau sạch và dâu tằm. Đến cuối năm 2004, toàn tỉnh đã có hơn 50.000 hộ nông dân sử dụng chế phẩm vi sinh học nhằm làm sạch môi trường, phục vụ sản xuất, đời sống, phát triển nông nghiệp sạch. Nhờ đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, bộ mặt nông thôn Vĩnh Phúc đã khởi sắc, đời sống nông dân được cải thiện và nâng cao. Năm 2004 tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm xuống còn 7%. Tác giả: Đặng Kim Oanh Nguồn: TC Lịch sử Đảng, số 6/2005, tr. 39-41. ******************************** |
||
