Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2005 » Số 43 » Đường lối chính sách » Vấn đề duy trì và mở rộng các mô hình dự án nông thôn miền núi

Vấn đề duy trì và mở rộng các mô hình dự án nông thôn miền núi

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 43/Đường lối chính sách
Đề mục : 68.01 Các vấn đề chung
12.91 Khoa học và công tác nghiên cứu khoa học của từng nước
Từ khoá : Dự án Hỗ trợ phát triển Nông thôn miền núi
Từ khoá phụ : Duy trì Mở rộng
Nội dung:

Trong những năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về tổ chức triển khai có hiệu quả chương trình định canh - định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số để ổn định nâng cao cuộc sống của và con vùng nông thôn nói chung, Bộ Khoa học và Công nghê đã triển khai chương trình " Xây dựng mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội nông thôn - miền núi" (gọi tắt là dự án NT-MN) và sở Khoa học và Công nghệ Khánh Hoà cũng đã thực hiện các dự án Nông thôn - Miền núi tập trung vào vùng sâu, vùng xa và miền núi cho đồng bào Ragglây ở Khánh Hoà. Sau khi kết thúc các dự án đều chuyển giao các mô hình cho địa phương (gồm huyện và xã) tiếp tục thực hiện và nhân rộng. Để có thể duy trì tốt và phát huy hiệu quả các mô hình dự án này, một số kiến nghị cần được quan tâm từ cả 2 phía: Địa phương có dự án và các tổ chức có liên quan. Nhìn chung, các mô hình dự án NT - MN xây dựng được ở Khánh Hoà trong mấy năm qua đã giúp cho Tỉnh uỷ, UBND tỉnh có cơ sở khoa học để quyết định chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi cho bà con đồng bào dân tộc thiểu số ở Khánh Hoà tập trung vào các vấn đề:
- Sản xuất lúa nước để đảm bảo lương thực cho vùng, từ đó Chương trình Lúa nước cho các huyện miền núi của tỉnh đã hình thành và đi vào triển khai từ năm 2000.
- Tạo ra nội lực ban đầu cho người dân, đó là nhận thức và các cơ sở vật chất ban đầu như việc xây dựng các hệ thống thuỷ lợi, san ủi đồng ruộng, cung cấp con giống, chuồng trại...
- Huấn luyện kỹ thuật cho người dân, xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật viên tại chỗ.
- Kết hợp với các chương trình dự án khác để phát huy sức mạnh tổng hợp các dự án trên một địa bàn.
Qua kết quả triển khai, các dự án đã hình thành cho bà con các phương thức sản xuất mới góp phần thay đổi dần tập quán cũng như bộ mặt cuộc sống người dân. Các tiến bộ kỹ thuật phù hợp được bà con tiếp thu và phát huy để tăng hiệu quả sản xuất, giảm được số hộ phải cứu đói như: nuôi cá, làm vườn ô xanh dinh dưỡng quanh nhà, chăn nuôi bò lai... Đặc biệt thành công cao nhất của dự án là đã hướng dẫn cho dân biết ứng dụng kỹ thuật trên những điều kiện tự nhiên sẵn có của mình, định hướng được sản xuất trên cơ sở tiến bộ kỹ thuật đã được chuyển giao. Ý thức của người dân được nâng lên rõ rệt trong việc tiếp thu những thành tự KHCN, phòng chống nạn phá rừng, khắc phục tính ỷ lại và họ đã tự tin vươn lên bằng ý chí và sức lực của mình.
Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực trên đây, qua theo dõi các dự án kể từ sau khi kết thúc và chuyển giao các mô hình cho địa phương để tiếp tục duy trì và nhân rộng, tình hình nói chung vẫn còn một số hạn chế cần phải tháo gỡ. Cụ thể là:
- Đối với mô hình nuôi bò: địa phương còn thiếu diện tích cỏ cho bò ăn do bà con phát triển đàn bò một cách tự phát; tập quán chăn thả còn duy trì, chậm chuyển biến theo cách chăn nuôi mới; việc đầu tư bổ sung thức ăn cho bò chưa đạt yêu cầu và bà con còn trông chờ vào sự đầu tư của Nhà nước nên mức tăng trọng của bò thấp; vấn đề thú y tại chỗ không còn được thường xuyên quan tâm như khi còn dự án.
- Đối với mô hình nuôi cá nước ngọt của hộ gia đình và mô hình nuôi vịt - cá: một số mô hình giao cho bà con tự quản (như ở Hòn Dữ) đang có khó khăn về nguồn giống, không thể tự đầu tư con giống mà chỉ trông chờ vào sự hỗ trợ của ngành,. và khi không còn được hỗ trợ tiếp thì... để trống ao.
- Các mô hình làm vườn cây ăn trái, cây công nghiệp (như điều, xoài) đòi hỏi việc chăm sóc đúng yêu cầu kỹ thuật tỏ ra không thích hợp với bà con; mặt khác, bà con không có kinh phí để đầu tư tiếp lượng phân bón bổ sung theo từng năm nên cây phát triển kém và hiệu suất thấp.
- Các kỹ thuật viên do dự án đào tạo phát huy tốt vai trò của người chuyển giao kỹ thuật hậu dự án, nhưng có địa phương chưa biết phát huy hết năng lực của các cán bộ này (như ở Ninh Tân) và làm ảnh hưởng đến việc duy trì kết quả của dự án.
Để có thể duy trì tốt và phát huy các mô hình dự án NT-MN, một số kiến nghị sau đây cần được lưu ý quan tâm:
1. UBND huyện và xã cần cắt cử cán bộ tiếp tục theo dõi, chỉ đạo mô hình (một kinh nghiệm tốt ở Ninh Tân: Đảng uỷ xã đã đề ra phương án tiếp nhận, phân công từng đảng viên bám và chỉ đạo trên địa bàn, chịu trách nhiệm về duy trì các mô hình).
2. Sau khi mô hình được bàn giao, bà con đã có một phần tích luỹ nhưng không nhiều, do đó cũng không đủ lực để đầu tư tiếp tục. Vì vậy trong thời gian 2-3 năm tiếp theo, các đơn vị đỡ đầu và các ngành chức năng (như Ban Dân tộc, Trạm Khuyến nông huyện, Trung tâm Khuyếnngư, phòng NN-PTNT...) cần tiép tục hỗ trợ giống, vật tư để bà con tiếp tục mô hình.
3. Cần tiếp tục sử dụng và phát huy đội ngũ kỹ thuật viên đã được đào tạo bằng các chủ trương thích hợp như chia thêm đất cho đội ngũ này, có chính sách bồi dưỡng thích hợp, tăng thêm các khoản hỗ trợ... (mỗi xã cần bố trí một khuyến nông viên và đào tạo cán bộ thú y xã).
4. Trong thời gian triển khai dự án, nhận thức của các hộ đồng bào dân tộc không đồng đều: hộ siêng năng thì thực hiện tốt các mô hình dự án đã huấn luyện, ngược lại cũng có hộ lười biếng dẫn đến kết quả kém. Để phát huy mô hình sau khi bàn giao, địa phương cần có chủ trương tổng hợp: bên cạnh việc phát huy các hộ tốt, uốn nắn và giáo dục các hộ lười, nên kết hợp viện pháp điều tiết đất đai thêm cho các hộ tốt, tăng cường đầu tư vật chất kỹ thuật cho các hộ siêng năng làm động lực kích thích cho cả vùng.
5. Đối với một số mô hình giao cho tập thể khó phát huy, nên áp dụng phưưong thức khoán cho một tập thể hoặc vài hộ (như mô hình nuôi cá tập trung, đặc biệt vận động phát huy mô hình nuôi ao cá gia đình).
6. Hàng năm tỉnh nên tổ chức nhân rộng mô hình để ổn định cuộc sống trong các khu định canh- định cư của đồng bào dân tộc thiểu số.
7. Khi triển khai các dự án tại các khu định canh, định cư của đồng bào dân tộc thiểu số, cần có sự phối hợp lồng ghép, gắn chặt chẽ các chương trình kinh tế - xã hội của Trung ương cũng như của tỉnh như Chương trình định canh - định cư, Chương trình lúa nước, Chương trình phòng trừ dịch hại tổng hợp IPM, Chương trình khuyến ngư, Chương trình phủ điện nông thôn....

Nguồn: Ấn phẩm Khoa học, Công nghệ và Môi trường Khánh Hoà/Số2/2005; tr. 11-12.
****************************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia