Hợp tác xã nông nghiệp Phù Nham, một điển hình tiên tiến trong thời kỳ mới |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Nông thôn đổi mới |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 42/I. Đường lối, chính sách |
| Đề mục | : | 68.99 Các vấn đề khác của nông nghiệp và lâm nghiệp |
| Từ khoá | : | Hợp tác xã ; Nông nghiệp ; Điển hình tiên tiến |
| Nội dung: | ||
|
Nằm ở cánh đồng Mường Lò, vựa lúa lớn thứ hai của Tây Bắc (sau Mường Thanh), hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Phù Nham đã từng bước đi lên trong cơ chế thị trường. Những hoạt động của hợp tác xã qua các thời kỳ lịch sử của đất nước không những thể hiện bề dày lịch sử của đất nước mà còn khẳng định vị thế của mình đối với xã hội. Hợp tác xã đã được Nhà nước tặng nhiều danh hiệu cao quý. Hiện nay, hợp tác xã đang đề nghị Nhà nước phê duyệt phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới. Từ nghiên cứu quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã Phù Nham có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
- Coi trọng thực hiện nhiệm vụ chính của hợp tác xã là phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn, tạo điều kiện để các hộ gia đình nông dân áp dụng khoa học - kỹ thuật trong nông nghiệp, góp phần đẩy mạnh lưu thông hàng hóa. Sau khi chuyển đổi, Ban chủ nhiệm và các xã viên đã xác định rõ phương hướng tổng quát hoạt động sản xuất kinh doanh của mình là hoạt động đa ngành, trong đó chú trọng các ngành nghề kinh doanh dịch vụ nông nghiệp và kinh doanh tổng hợp. Nhờ đó, hợp tác xã được đồng bào các dân tộc thiểu số, cũng như các hộ nông dân toàn xã hưởng ứng và tích cực tham gia, với 1.421 hộ, 6.638 nhân khẩu. Có thể khẳng định hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Phù Nham đã làm tốt công tác bảo toàn và tăng vốn hoạt động qua mỗi năm. Năm 1997, khi mới chuyển đổi, vốn hoạt động của hợp tác xã chỉ có 504 triệu đồng, đến năm 2004 vốn hoạt động đã lên đến 1,82 tỉ đồng, tăng 1,3 tỉ đồng (tương đương 357% trong 7 năm). Sản xuất kinh doanh có lãi từ 65 – 180 triệu đồng hàng năm, chia cổ phần xã viên tăng từ 22 – 54 triệu đồng/năm. Về dịch vụ khoa học kỹ thuật: từ năm 1999 đến năm 2004 đã đưa vào sản xuất trên 210 tấn lúa lai, bình quân 35 tấn/năm; đưa tỷ lệ gieo cấy lúa lai từ 65% diện tích năm 2000, lên 90% diện tích năm 2002 và đạt 98% diện tích năm 2004. Cung ứng trên 80 tấn giống ngô lai năng suất cao, 15.000 cây ăn quả chiết ghép, 90 vạn cây lâm nghiệp (như bạch đàn mô, keo lai), 30 vạn bầu chè giống mới trồng trên 10 ha đất vườn. Hợp tác xã đã hỗ trợ 154 hộ xã viên chăn nuôi giỏi, 89% số hộ trong xã sử dụng điện... Đáng chú ý là hợp tác xã đã bao tiêu sản phẩm cho xã viên hàng nông sản phẩm: thóc từ 400 – 500 tấn/năm; ngô, khoai, sắn 300 tấn/năm; rau, củ, quả các loại 450 tấn/năm. - Dựa vào điều kiện cụ thể của địa phương, xây dựng điểm bán hàng với phương châm trao đổi hàng hóa với nông dân, chuyển giao khoa học - kỹ thuật nông nghiệp tới tận vùng sâuvùng xa, thực hiện tốt 9 khâu dịch vụ kinh doanh. So với năm 2000, hợp tác xã đã tăng 3 ngành nghề dịch vụ kinh doanh thu hút thêm 80 lao động, trên 1.400 xã viên được hưởng dịch vụ vật tư hàng hóa phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp cũng như các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống xã viên và nhân dân trong khu vực và một số xã lân cận. Sở dĩ có được kết quả này là do ban chủ nghiệm hợp tác xã nhanh nhạy nắm bắt tình hình cụ thể địa bàn dân cư, bàn bạc với cán bộ chủ chốt của xã xây dựng các điểm bán hàng ở vùng đông dân cư, những thôn bản thuận tiện việc mua bán sản phẩm nông sản, thực phẩm của nông dân. Ngoài ra ban chủ nghiệm cũng đi tham quan, học hỏi kinh nghiệm về các mô hình tốt ở các tỉnh bạn và vận dụng cụ thể vào địa phương mình. Hiện nay, các điểm bán hàng của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Phù Nham không những có mặt ở các thôn bản trên địa bàn xã mà còn vươn xa ra các xã bạn góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh trong vùng. Hợp tác xã duy trì chế độ giao ban định kỳ của 9 ngành nghề kinh doanh dịch vụ như: dịch vụ mua bán kinh doanh nông sản; dịch vụ cho vay các loại vật tư nông nghiệp; dịch vụ điện; dịch vụ mua bán hàng hóa thương nghiệp; vật tư nông nghiệp; dịch vụ ngành nghề quản lý vườn cây, chăn nuôi; dịch vụ kinh doanh vật liệu xây dựng sản xuất gạch EG5, dịch vụ vận tải, dịch vụ tín dụng nội bộ; dịch vụ kinh doanh xăng dầu.... - Lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo và nâng cao vai trò của nó. Tổ chức sắp xếp lao động đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hoạt động kinh doanh, đào tạo sử dụng cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng thời kỳ. Để có được kết quả tốt thì việc tổ chức sắp xếp lao động đáp ứng yêu cầu hoạt động kinh doanh là khâu khó nhất. Làm thế nào để lựa chọn đúng người đúng việc. Xã viên cần lựa chọn một ban quản trị và ban chủ nghiệm để điều hành hợp tác xã. Trong mỗi giai đoạn, hợp tác xã phải xác định được mô hình tổ chức quản lý cho phù hợp với điều kiện cụ thể của mình. Những khó khăn của hợp tác xã được bà con xã viên dân chủ bàn bạc, đồng thời tranh thủ sự góp ý kiến của các cấp ủy, chính quyền xã nên mọi ách tắc trong công việc đều được khai thông nhanh chóng. Chính vì vậy doanh số kinh doanh lãi ròng của hợp tác xã năm sau tăng so với năm trước. Sở dĩ làm được kết quả trên là do: - Tuyên truyền cho nông dân và xã viên hiểu về luật hợp tác xã, các chế độ xã viên được giải quyết kịp thời, quyền và nghĩa vụ xã viên được giải quyết thoả đáng, thu hút thêm nhiều lao động tham gia góp cổ phần trở thành xã viên. Hợp tác xã xử lý nợ cũ còn lại một cách hợp lý, hợp tình; xử lý nợ phát sinh kịp thời trong quản lý nguồn vốn quỹ kinh doanh hiệu quả, tích cực đưa các tiến bộ công nghệ vào sản xuất nông – lâm nghiệp, mở rộng thị trường giao lưu quan hệ dịch vụ đôi bên đều có lợi. - Xác định các ngành nghề kinh doanh đúng với mục đích, tích cực đề nghị các chính sách ưu tiên và tìm nguồn vốn kinh doanh, hoạt động dịch vụ đúng hướng. Khắc phục về trình độ quản lý kinh tế của cán bộ, cử cán bộ đào tạo kế cận, đổi mới và sắp xếp lại lề lối làm việc, đưa các hoạt động sản xuất kinh doanh đúng luật và điều lệ. Trong thời gian qua, hợp tác xã đã cử cán bộ đi học tại các trường ở trung ương và địa phương. - Xác định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của hợp tác xã đối với xã viên, hoạt động hợp tác xã phải đa dạng, nhiều nội dung hoạt động, tìm ra được những giải pháp mới trong quản lý kinh doanh dịch vụ cho phù hợp với cơ chế thị trường, đảm bảo hài hòa ba lợi ích Nhà nước, hợp tác xã và xã viên. Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Phù Nham là hợp tác xã kiểu mới. Cán bộ làm công tác quản lý hợp tác phải năng động trong cơ chế thị trường, hiểu biết chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, hiểu biết về mô hình hợp tác kiểu mới hoạt động theo Luật hợp tác xã, nắm bắt yêu cầu nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, biết tiếp thu những tiến bộ khoa học – công nghệ, nghiên cứu nắm thị trường và khả năng phát triển của địa phương mình cho phù hợp với điều kiện phát triển hợp tác. Nhiệm vụ từ nay đến 2010 là tiếp tục theo mô hình kinh doanh tổng hợp, duy trì 9 khâu dịch vụ hiện có và tiếp tục phát triển các ngành nghề. Tác giả: Doãn Đình Huề Nguồn: TC Cộng sản, số 15, tháng 8/2005, tr. 74 – 78. ********************************* |
||
