Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2005 » Số 39 » I. Đường lối, chính sách » Giải pháp giải quyết đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ của tỉnh Kon Tum

Giải pháp giải quyết đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ của tỉnh Kon Tum

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 39/I. Đường lối, chính sách
Đề mục : 68.31 Cải tạo đất nông nghiệp
68.99 Các vấn đề khác của nông nghiệp và lâm nghiệp
Từ khoá : Đất sản xuất Dân tộc thiểu số Giải pháp
Nội dung:
Kon Tum là một tỉnh vùng cao biên giới nằm ở cực bắc Tây Nguyên, với diện tích tự nhiên là 9.661 km2, có đường biên giới dài 275 km. Dân số toàn tỉnh đến 12/2001 là 344.043 người, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 53,2%.
Đất đai của Kon Tum tương đối màu mỡ, giàu chất dinh dưỡng, phù hợp với phát triển cây trồng, đặc biệt là cây công nghiệp dài ngày. Đất nông nghiệp có khoảng 116.000 ha, nhưng mới sử dụng 52.000 ha, cho nên khả năng để mở rộng diện tích đất nông nghiệp còn tương đối lớn. Đất rừng có 641.000 ha, trong đó rừng tự nhiên 611.300 ha và rất phù hợp cho việc phát triển chăn nuôi đàn gia súc.
Để thực hiện giao đất cho đồng bào thiểu số nhanh và hợp lý, cần phải thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, tăng cường vai trò lãnh đạo của ban chỉ đạo và ban điều hành.
Ban chỉ đạo của tỉnh cần phân công các thành viên khẩn trương đôn đốc và kiểm tra thực hiện giải quyết đất sản xuất cho đồng bào dân tộc. Chủ tịch ủy ban nhân dân các huyện, thị xã phải trực tiếp chỉ đạo các phòng, ban, ủy ban nhân dân các xã khẩn trương triển khai phương án đã được phê duyệt và đã được thẩm định. Tiếp tục rà soát và bổ sung thêm số hộ và diện tích đất phát sinh ngoài phương án, từ đó cân đối và bổ sung thêm nguồn vốn hỗ trợ khai hoang, mở rộng thêm diện tích để cấp cho đồng bào là người dân tộc thiểu số tại chỗ.
Các huyện và xã của tỉnh, cần đẩy mạnh việc thống kê, đo đạc lại toàn bộ số lượng đất để giải quyết triệt để những vướng mắc phát sinh. Thực hiện tốt nội dung này sẽ tạo cơ sở cho việc quản lý đất nông nghiệp và phân bố sử dụng đất cho đồng bào dân tộc trong tỉnh một cách hợp lý. Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã chỉ đạo các trạm khuyến nông, trạm bảo vệ thực vật có kế hoạch cụ thể giúp đỡ đồng bào tổ chức sản xuất và sử dụng giống mới có năng suất cao vào sản xuất.
Hai là, tổ chức giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ của tỉnh.
Khẩn trương hoàn chỉnh việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ của tỉnh. Giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ tạo ra những cơ sở pháp lý xác định quyền sử dụng đất hợp pháp, để bà con dân tộc thực sự có quyền và nghĩa vụ sử dụng đất được giao.
Tập trung, giải quyết dứt điểm những tồn đọng liên quan đến vấn đề giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ của tỉnh. Khai hoang đến đâu phải tổ chức giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến đó cho đồng bào. Thực hiện nguyên tắc, tất cả các vùng đất, khoảnh đất đều phải có chủ thực sự. Các huyện, thị xã trong tỉnh khẩn trương có kế hoạch khai thác số đất thu hồi của nông, lâm trường trong tỉnh để giao khoán đất rừng cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, trong đó ưu tiên cho các hộ thiếu đất sản xuất theo Nghị định 163/NĐ – CP của Chính phủ và Quyết định 178/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, có kế hoạch tiếp nhận số lao động là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ thiếu đất vào các dự án phát triển nông – lâm nghiệp, nhằm giảm áp lực giải quyết đất trên địa bàn tỉnh.
Ba là, xây dựng hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.
Đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi, nhất là những công trình giữ nước, hệ thống thủy lợi nhỏ phục vụ cho công tác tưới tiêu. Việc đầu tư vào các công trình thủy lợi là khá lớn, nhưng vì sự phát triển của nông nghiệp và của đồng bào dân tộc thì kiên quyết phải đầu tư một cách thoả đáng vào lĩnh vực này. Ngân sách của trung ương và địa phương cần tích cực hỗ trợ để tỉnh có thêm các công trình thủy nông, đồng thời có chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích những tổ chức và cá nhân tham gia xây dựng hệ thống thủy lợi vừa và nhỏ.
Tổ chức xây dựng các hệ thống kênh mương, phục vụ tưới tiêu cho đồng bào dân tộc. Những vùng nào không có khả năng để xây dựng hồ chứa nước cần có biện pháp đầu tư các hệ thống giếng ngầm, giếng đất... quy hoạch phát triển những sông, suối nhỏ, xây dựng các đập tràn dâng, hồ chứa, trạm bơm, công trình hỗn hợp để vừa phát điện vừa khai thác thuỷ lợi, hạn chế tập trung dòng chảy ở hạ lưu và cấp nước dân sinh cho các cụm gia đình.
Bốn là, tổ chức khai hoang, phục hóa để mở rộng diện tích đất canh tác cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.
Để khai hoang đạt kết quả, cần làm tốt công tác điều tra cơ bản vùng dự định khai hoang, cần đánh giá đúng những thuận lợi và khó khăn, những thế mạnh để bố trí phương án khai hoang và sau khai hoang một cách hợp lý. Khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài vùng có khả năng về vốn và năng lực quản lý, phấn đấu tự khai hoang để mở rộng sản xuất.
Thực hiện tốt khai hoang 4.063 ha đất theo phương án đã duyệt để giao đất sản xuất cho 6.972 hộ là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ của tỉnh. Phải kết hợp khai hoang gắn với đầu tư thâm canh, với chế độ tưới tiêu để bảo vệ và cải tạo đất. Chú ý bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý, nâng cao hệ số sử dụng đất canh tác, khai thác tối đa tiềm năng của đất theo chiều rộng và chiều sâu, làm tăng giá trị sử dụng đất sản xuất cho đồng bào.
Năm là, thực hiện tốt công tác định canh, định cư phát triển kinh tế hộ gia đình cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Để thực hiện tốt điều này, trước tiên cần chú ý thực hiện tốt một số điểm sau:
- Phải đặc biệt coi trọng việc giao đất, giao rừng cho đồng bào các dân tộc ở vùng kinh tế mới để họ yên tâm định canh. Nếu không thực hiện tốt định canh thì sẽ không thực hiện được định cư.
- Thực hiện quy hoạch vùng kinh tế mới một cách cụ thể, khoa học. Bảo đảm các yếu tố về môi trường, cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục và vùng đất sản xuất để đồng bào lên vùng kinh tế mới có điều kiện sớm ổn định cho cuộc sống, yên tâm làm ăn, không quay lại con đường đốt phá rừng, du canh, du cư.
- Bảo đảm cho vay vốn không lấy lãi đối với vùng đồng bào mới định canh, định cư, giúp họ phát triển sản xuất, khuyến khích khai hoang, phục hóa, mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp, cây lương thực.
- Xây dựng vùng định canh, định cư thành khu kinh tế mới, buôn văn hóa mới tạo điều kiện cho đồng bào phát triển kinh tế hộ gia đình, từng bước nâng cao thu nhập và ổn định cuộc sống.
Tác giả: Ts. Mai Thế Hởn, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Nguồn: TC Sinh hoạt lý luận, số 3/2005, tr. 70 – 72, 79.
********************************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia