Định hướng chung cho giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 là toàn diện, công bằng, bền vững và từng bước hội nhập |
||
| Dạng tài liệu | : | |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | eng |
| Tên nguồn trích | : | Nông thôn đổi mới |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 38/Đường lối - Chính sách |
| Đề mục | : | 68.01 Các vấn đề chung |
| Từ khoá | : | Xói đói giảm nghèo ; Giảm nghèo đói ; 2006-2010 |
| Từ khoá phụ | : | Định hướng |
| Nội dung: | ||
|
Xoá đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu là một chủ trương lớn, một quyết sách lớn và nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chủ trương này được hình thành ngay từ những ngày đầu khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và ngày càng được hoàn thiện hơn trong quá trình phát triển; không những đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân Việt Nam mà còn phù hợp với các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ mà Liên Hiệp Quốc đã đề ra.
Bước sang giai đoạn mới, định hướng chung cho giảm nghèo là toàn diện hơn, công bằng hơn, bền vững và từng bước hội nhập. Với định hướng trên ngay từ tháng 4 năm 2005, Chính phủ đã chấp thuận chuẩn nghèo mới cho giai đoạn 2006-2010 do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đề xuất ở mức 260 nghìn đồng đối với vùng thành thị và 200 nghìn đồng đối với vùng nông thôn; chuẩn nghèo nêu trên là phù hợp với điều kiện thực tế ở nước ta và cũng đã từng bước hội nhập. Chính phủ cũng đã chỉ đạo các địa phương triển khai điều tra, khảo sát xác định hộ nghèo trên phạm vi toàn quốc làm cơ sở cho việc xây dựng chương trình, kế hoạch trong 5 năm tới. Mục tiêu giảm nghèo trong 5 năm tới là phải giảm được 35-38% số hộ nghèo theo tiêu chuẩn mới; cải thiện đời sống của nhóm hộ nghèo nhằm hạn chế tốc độ gia tăng khoảng cách chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, giữa các nhóm dân cư. Để đạt được mục tiêu nêu trên và các chỉ tiêu cụ thể đã được thể hiện trong văn kiện chương trình cần phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, từ việc nâng cao nhận thức, quyết tâm vượt nghèo vươn lên làm giàu đến việc đa dạng hoá huy động nguồn lực, Nhà nước, cộng đồng, doanh nghiệp và vận động quốc tế, hàng năm Nhà nước cũng cần cân đối một tỷ lệ nhất định cho chương trình. Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách và dự án cụ thể, đặc biệt quan tâm đến cơ chế dân chủ cơ sở, tăng cường sự tham gia của người dân, tăng cường phân cấp cho địa phương, cơ sở và phát huy vai trò tham gia, giám sát của các tổ chức đoàn thể. Việc quản lý và điều hành cũng cần phải chặt chẽ hơn, quyết liệt hơn, chú trọng kiện toàn về tổ chức và tăng cường cán bộ có năng lực, nhiệt huyết cho công tác xoá đói giảm nghèo, nhất là cán bộ cấp xã. Theo Bộ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội Nguyễn Thị Hằng thì “Cần làm rõ mục tiêu và những điểm đột phá trong Chương trình giảm nghèo giai đoạn 2006-2010”: Về phương pháp luận, cách tiếp cận và các mối quan hệ trong xây dựng Chương trình Mục tiêu Quốc gia Giảm nghèo cần phân biệt và làm rõ ba mối quan hệ sau đây: Quan hệ thứ nhất là Chương trình Giảm nghèo phải được đặt trong chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tổng thể của đất nước nói chung và hẹp hơn là của từng vùng, từng ngành, từng địa phương. Tại sao có nơi đạt tốc độ tăng trưởng rất cao, song lại có những vùng, những xã còn rất nghèo. Điều đó cho thấy không phải cứ tập trung đạt tốc độ tăng trưởng GDP cao là không cần phải giảm nghèo hoặc không chú trọng mục tiêu này trong chiến lược phát triển chung. Quan hệ thứ hai là quan hệ với các chương trình mục tiêu, dự án khác. Ngoài giảm nghèo, còn có rất nhiều các chương trình khác liên quan đến mục tiêu chung như chương trình về văn hoá, giáo dục, phủ sóng phát thanh, truyền hình, bưu điện văn hoá xã và đến cả các nhà văn hoá ở thôn, bản... Hiện tại, những Chương trình này có nhiều, song không phải vì thế mà vai trò hay nguồn lực của chương trình giảm nghèo bị hạn chế, do vậy phải có quan hệ lồng ghép giữa các chương trình khác với Chương trình giảm nghèo. Quan hệ thứ ba là quan hệ với các chương trình về hợp tác quốc tế theo vùng, quốc gia và thậm chí ở phạm vi địa phương, song cũng rất quan trọng đối với việc giảm nghèo. Mặc dù có thể những chương trình này chỉ đi trực tiếp vào một đối tượng, lĩnh vực nào đó như vào xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực cũng là phục vụ nhiệm vụ nâng cao mức sống của nhân dân và giảm nghèo. Làm rõ và hiểu được những mối quan hệ trên sẽ là cơ sở để phối kết hợp; lồng ghép và cũng có sự tách bạch hay phân loại để làm rõ những công cụ nào trực tiếp hay gián tiếp tác động đến việc thụ hưởng của người nghèo; xác định được bản chất và nguyên nhân của nghèo đói ở các vùng, các hộ nghèo là do thiếu lao động, dân trí hay tệ nạn xã hội. Chính vì vậy mà UNDP cũng đề cập đến việc xem xét tất cả vấn đề HIV/AIDS là một trong những nguyên nhân đói nghèo. Chúng ta nên xem xét vấn đề theo kiểu như vậy trên nhiều khía cạnh cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Về mục tiêu chung của Chương trình, đến năm 2010 và xa hơn nữa, Việt Nam phải ra khỏi danh sách những nước kém phát triển và có thu nhập bình quân đầu người tương đối so với các nước trong khu vực. Do vậy, phải nâng cao và cải thiện mức sống của một bộ phận dân cư nghèo và giảm tốc độ gia tăng khoảng cách chênh lệch về thu nhập... Năm nay, theo tính toán của các cơ quan Trung ương, GDP bình quân đầu người nước ta là khoảng 600 USD và chuyển đổi theo sức mua tương đương là khoảng 3.000 USD. Vậy, chúng ta có nên tiếp tục xem xét có nên bổ sung mục tiêu cho sát hợp với các nhóm nghèo và quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào nghèo hay không? Về chỉ tiêu, trên phạm vi cả nước, trong 5 năm, phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới từ khoảng 26% năm 2005 xuống 15% năm 2010 (giảm 38% số hộ nghèo). Như vậy, ở nhiều vùng, nhiều nơi còn nhiều hộ nghèo cần phấn đấu đạt tỷ lệ giảm khoảng 3%/năm. Về chuẩn nghèo, hiện tại chúng ta đang thực hiện theo 3 chuẩn, mặc dù cũng có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng với quan điểm là tập trung cho vùng nghèo và những đối tượng nghèo còn nhiều thiệt thòi và khó khăn nên Chính phủ đã quyết định là trong 5 năm tới chúng ta sẽ thực hiện 2 chuẩn. Như vậy có lợi hơn và công bằng hơn cho đồng bào dân tộc miền núi so với thực hiện theo 3 chuẩn và cũng dễ có điều kiện tập trung giảm nghèo cho đồng bào khu vực này. Các tiêu chí này cũng gắn với các yếu tố mà quốc tế phân loại, mang tính khoa học cao và tính đến nhiều yếu tố như tốc độ tăng trưởng GDP, trượt giá. Bộ Lao động – TBXH đã trình 2 phương án và Nhà nước đã quyết định theo phương án một tức là thực hiện theo 2 chuẩn là 200 và 260 ngàn/đồng/người/tháng. Về nội dung Chương trình: dự kiến bao gồm 6 chính sách, 6 dự án và 6 cơ chế, Bộ Lao động – TBXH sẽ tiếp tục tiếp thu ý kiến của các Bộ, Ngành, địa phương đóng góp cho dự thảo xây dựng Chương trình. Tuy nhiên, chúng tôi muốn nói tới vấn đề cơ chế, trong đó đặc biệt phải nói đến điểm đột phá thứ nhất, đó là đột phá trong nguồn lực thực hiện chương trình. Cách huy động nguồn lực phải rõ ràng, dùng nhiều hình thức vận động và thu hút mọi nguồn lực, kể cả các nguồn lực ngoài nước như vay cả Ngân hàng thế giới... Điểm đột phá thứ hai là phải khuyến khích sự cố gắng, ý chí tự vươn lên của bản thân người nghèo. Cần phải nói đến trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, các cơ quan chức năng và cơ quan truyền thông đại chúng... Nhân tố đồng bào, người nghèo tự vươn lên là nhân tố quyết định, không thể ai thay được. Do vậy, phải nói mạnh và làm mạnh vấn đề này, phải vận động và làm chuyển nhận thức của họ. Điểm đột phá thứ 3 là Giám sát độc lập và bảo lưu một số chính sách khi họ đã vượt nghèo. Cần phải có sự tuyên dương, khen thưởng và tôn vinh về chính trị, tinh thần đối với những địa phương, cá nhân và bản thân người dân làm tốt song cũng cần phải tránh bệnh thành tích, rồi từ cái sai này dẫn đến cái sai khác. Về điều hành, phân công và phân cấp: Bộ sẽ phối hợp với các bộ, ngành liên quan, tham mưu cho chính phủ về phân công, phân cấp trách nhiệm của các Bộ, Ngành và các cấp địa phương. ở Trung ương, Bộ Lao động – TBXH chỉ là Bộ thường trực Chương trình, các Bộ ngành liên quan thực hiện Chương trình theo chức năng của mình và phải được phân công trách nhiệm cụ thể. Đây cũng là vấn đề gắn với cải cách hành chính... Cuối cùng, cần có sự đánh giá khách quan, điều tra trên 2 nguyên tắc trực tiếp và chú ý đến thực trạng nghèo đói của địa phương mình. Đây là số liệu mang tính pháp lý, là cơ sở để Bộ Lao động – TBXH tổng hợp trình Chính phủ tỷ lệ nghèo chung toàn quốc... Đề nghị các tỉnh, thành phố và các địa phương cần nên bắt tay ngay vào xây dựng chương trình, cho sát hợp với chỉ đạo chung đưa các số liệu điều tra, tổng hợp và những vấn đề lớn vào văn kiện đại hội Đảng các cấp. Nguồn: Tạp chí Lao động và Xã hội, Số 267/2005; tr. 1-2, 11. **************************** |
||
