Vĩnh Long: Giải pháp phát triển ngành công nghiệp chế biến |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Nông thôn đổi mới |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 37/ĐƯỜNG LỐI - CHÍNH SÁCH |
| Đề mục | : | 06.61 Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ. Kinh tế theo vùng |
| Từ khoá | : | Công nghiệp chế biến ; Tỉnh Vĩnh Long |
| Nội dung: | ||
|
Ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tỉnh Vĩnh Long tuy có xuất phát điểm thấp nhưng trong 5 năm từ 2001 - 2005 đã phát triển nhiều ngành nghề đa dạng, trong đó ngành công nghiệp chế biến (CNCB) chiếm tỷ trọng trên 90% trong giá trị sản xuất toàn ngành, 3 lĩnh vực chiếm tỷ trọng lớn là công nghiệp (CN) sản xuất lương thực thực phẩm và đồ uống chiếm 23%, CN sản xuất sản phẩm khoáng phi kim loại chiếm 27% và CN hoá chất - dược - vật tư y tế chiếm 19%. Tuy mỗi lĩnh vực phát triển dựa trên những lợi thế riêng và khai thác nguồn nguyên liệu tại chỗ nhưng so với tiềm năng thì CNCB của Vĩnh Long cần nhiều giải pháp mang tính đột phá để đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng.
Phát triển chưa đồng đều giữa số lượng và chất lượng Toàn tỉnh hiện có 6.715 cơ sở thuộc ngành CNCB thu hút hơn 52.800 lao động, trong đó có 1.987 cơ sở sản xuất thực phẩm và đồ uống, 1.108 cơ sở sản xuất trang phục, 1.492 cơ sở sản xuất sản phẩm khoáng phi kim loại. Số đơn vị kinh doanh trong ngành CNCB đã tăng 18,7% so với năm 2000. Riêng giá trị sản xuất ước tính năm 2005 đạt 2.014 tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2000. Ngành CNCB nông sản phát triển mạnh và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu CN của tỉnh Vĩnh Long, trong đó nhóm ngành xay xát gạo và lau bóng gạo được phát triển đều khắp các huyện thị trong tỉnh, năng lực xay xát bình quân từ 600.000 - 700.000 tấn/năm. Bên cạnh đó, còn có nhóm ngành chế biến nấm rơm, thuỷ sản đông lạnh, trứng muối, sản xuất nước chấm... Toàn tỉnh hiện có hơn 1.700 cơ sở chế biến nông sản, tốc độ phát triển cơ sở của ngành này trong 5 năm qua tăng nhanh hơn gấp 3,2 lần so với ngành CNCB nói chung. Cơ cấu mặt hàng của ngành CNCB nông sản rất đa dạng, phong phú, chủ yếu khai thác nguồn nguyên liệu địa phương phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. Riêng CN hoá chất cơ bản và chế biến dược liệu phát triển khá do các doanh nghiệp xây dựng phương án sản xuất phù hợp với nhu cầu của thị trường trong vùng với các sản phẩm như tân dược, nhựa, bao bì, vỏ nhộng capsule... Trong giai đoạn từ năm 2001 - 2005, ngành CN này có tốc độ tăng trưởng bình quân 14,5%/năm. Hiện nay, Công ty cổ phần dược phẩm Vĩnh Long là doanh nghiệp giữ vai trò chủ lực với quy mô sản xuất nhiều mặt hàng sản phẩm thuốc tân dược và đông dược đa dạng cung ứng cho thị trường trong tỉnh và cả nước, trong đó vỏ nhộng capsule và bộ ống tiêm kim chích là mặt hàng thế mạnh, có thị trường xuất khẩu. Tỉnh còn phát triển các cơ sở sản xuất nhựa nguyên chất, nhựa tái sinh với quy mô nhỏ dạng gia đình tập trung ở thị xã Vĩnh Long. Tuy phát triển mạnh về số lượng, đa dạng về ngành nghề và thu hút nhiều lao động nhưng ngành CNCB của Vĩnh Long chưa được đầu tư chiều sâu. So với các tỉnh trong khu vực, giá trị CNCB của Vĩnh Long chiếm tỷ trọng thấp trong ngành CNCB toàn vùng, năng suất lao động chưa cao do công nghệ lạc hậu. Thiếu vốn, thiếu quy hoạch và thiếu nguồn nhân lực có tay nghề là những nguyên nhân chủ yếu khiến cho ngành CNCB của tỉnh vẫn chưa khai thác triệt để nguồn nguyên liệu dồi dào, sản xuất vẫn còn theo dạng gia đình quy mô nhỏ và chất lượng sản phẩm chưa ổn định để hướng đến thị trường xuất khẩu bền vững. Cần phát triển CNCB trên quy mô liên kết vùng Trong định hướng giai đoạn 2005 - 2010, tỉnh Vinh Long phấn đấu phát triển hơn 8.300 cơ sở ngành CNCB, tăng 24,8% so với năm 2005, thu hút trên 100.000 lao động, đưa giá trị CNCB đến năm 2010 tăng trưởng gấp 1,7 lần so với năm 2005. Để thực hiện mục tiêu này, ngành CN tập trung thực hiện 3 giải pháp là phát triển những ngành hàng có lợi thế cạnh tranh, đa dạng hóa về quy mô và loại hình sản xuất đồng thời phát triển CNCB trên cơ sở quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy mô liên kết vùng. Những ngành hàng có lợi thế cạnh tranh và thu hút nhiều lao động được tỉnh Vĩnh Long khuyến khích phát triển là chế biến nông sản, lương thực thực phẩm, thủ công mỹ nghệ, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất trang phục... Tỉnh xây dựng các dự án trọng điểm kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước như dự án xây dựng Nhà máy chế biến các sản phẩm từ cây dừa công suất 7.500 tấn/năm, vốn đầu tư 21,6 tỷ đồng; dự án xây dựng Nhà máy sản xuất bao bì quy mô 7,2 triệu sản phẩm các loại/năm, vốn đầu tư 48 tỷ đồng; dự án xây dựng Nhà máy chế biến rau, củ, quả xuất khẩu công suất 10.000 - 15.000 tấn/năm, vốn đầu tư hơn 157 tỷ đồng. Cùng với các dự án quy mô lớn, tỉnh xây dựng các chính sách thu hút khu vực ngoài quốc doanh đầu tư mở rộng quy mô sản xuất với công nghệ tiên tiến, gồm các ngành sản xuất dầu nhờn, phân bón lá, chế biến thức ăn chăn nuôi, thực phẩm đóng hộp..., tiếp tục phát triển các làng nghề truyền thống gắn với vùng nguyên liệu như làng nghề sản xuất nấm rơm, trứng muối, chiếu thảm..., hình thành các cơ sở vệ tinh đảm bảo cung ứng sản phẩm với số lượng lớn và ổn định nhằm hướng đến thị trường xuất khẩu. Tại các khu vực đô thị, tỉnh khuyến khích phát triển các nhóm ngành sản xuất thiết bị điện tử, các sản phẩm khoáng phi kim loại, sản xuất trang phục... Riêng trong năm 2005, tại Khu công nghiệp Hòa Phú, các dự án sản xuất thực phẩm đóng hộp của Công ty Phú Quý, sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản của công ty Biofeed và Công ty Đỗ Lộc đi vào hoạt động ổn định đã cung ứng nhiều sản phẩm mới, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng của ngành CNCB trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành và tạo thêm việc làm thu hút lao động nông thôn. Nguồn: Sản xuất và thị trường, Số 35/2005 |
||
