Định hướng tiếp cận giải quyết vấn đề nghèo đói ở nước ta |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Nông thôn đổi mới |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 36/I. Đường lối, chính sách |
| Đề mục | : |
06.71 Cơ cấu kinh tế theo ngành. Các ngành kinh tế
06.59 Kinh tế các nước đang phát triển |
| Từ khoá | : | Nghèo đói ; Giải quyết ; Định hướng |
| Nội dung: | ||
|
Nghèo đói là vấn đề có tính toàn cầu, không phải là vấn đề riêng của nước ta, đồng thời nghèo đói cũng là vấn đề kinh tế - chính trị - xã hội, nó không chỉ thuần túy là một vấn đề riêng lẻ của kinh tế hay xã hội. Vì vậy, giải quyết vấn đề nghèo đói không chỉ dựa vào kinh nghiệm trong nước mà đòi hỏi phải có phương pháp tiếp cận giải quyết một cách khoa học – đó là gắn kết tăng trưởng với giảm nghèo, giảm nghèo đói phải đảm bảo tính toàn diện, công bằng, bền vững và hội nhập.
Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta là đi đôi với tăng trưởng kinh tế phải đẩy lùi mạnh giảm nghèo, bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội trong quá trình phát triển giữa các vùng, miền trong cả nước, hạn chế tốc độ gia tăng khoảng cách giàu, nghèo. Gắn giảm nghèo với phát triển kinh tế, nâng cao năng lực ủa người nghèo, tạo môi trường, điều kiện để người nghèo tiếp cận với các dịch vụ sản xuất tự vươn lên thoát nghèo và phấn đấu trở thành khá giả, giàu có; đồng thời cũng chú trọng quan tâm đến nhu cầu về giao dục, y tế, nhà ở và nước sạch của nhóm nghèo nhất. Mục tiêu tổng thể của chương trình là tạo môi trường thuận lợi cho người nghèo tiếp cận với các dịch vụ sản xuất, tự lực vượt qua nghèo đói, vươn lên khá giả và làm giàu; giảm tỷ lệ nghèo từ 26,7% (năm 2005 theo chuẩn 2006 – 2010) xuống còn 16% vào năm 2010; đẩy nhanh tốc độ tăng thu nhập, mức sống của hộ nghèo, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, khu vực và giữa nhóm nghèo với nhóm giàu. Tạo cơ chế cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội một cách bình đẳng và hưởng thụ các thành quả của quá trình đổi mới và phát triển. Tập trung ưu tiên vào khoảng 35 huyện (ở 20 tỉnh) và khoảng 3.000 xã có tỷ lệ hộ nghèo cao (ở 59 tỉnh); 4,6 triệu hộ nghèo (26,7% tổng số hộ trong cả nước); 23 triệu người nghèo (28% dân số). Tiếp tục ưu tiên đầu tư hạ tầng cho xã nghèo và hỗ trợ cho hộ, nhóm hộ về điều kiện sản xuất và tạo việc làm. Các chính sách, dự án cụ thể của chương trình sẽ được cân nhắc trên cơ sở xem xét tính phù hợp của các chính sách, dự án hiện hành để điều chỉnh, tuy nhiên cần đảm bảo bốn định hướng lớn để hỗ trợ giảm nghèo, bền vững. Đó là: tạo các cơ hội về phát triển sản xuất để hộ nghèo tự vượt nghèo thông qua các chính sách trợ giúp về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch; giảm rủi ro cho người nghèo thông qua việc nâng cao năng lực phòng chống rủi ro, hỗ trợ xây dựng “Quỹ phát triển cộng đồng” ở các xã nghèo đặc biệt khó khăn, khuyến khích mô hình tín dụng - tiết kiệm; tăng cường sự tham gia của người dân trong quá trình ra quyết định, nhất là của phụ nữ, đồng bào dân tộc để nâng cao hiệu quả của chương trình. Để thực hiện được mục tiêu của chương trình đề ra, cần tập trung một số giải pháp sau: Thứ nhất, tiếp tục phân cấp triệt để cho địa phương, đảm bảo sự hài hòa giữa trách nhiệm đi đôi với quyền hạn; các bộ, ngành tập trung vào xây dựng cơ chế, chính sách, xây dựng tiêu chí, tạo nguồn lực, đào tạo cán bộ, hướng dẫn và giám sát đánh giá; việc huy động nguồn lực tại chỗ và tổ chức thực hiện là trách nhiệm của xã, huyện và tỉnh. Phát huy sáng kiến, năng động của địa phương, vai trò của các đoàn thể và người dân trong quá trình thực hiện. Thứ hai, đối với 35 huyện miền núi nghèo nhất cần đưa vào kế hoạch đầu tư tập trung. Kinh nghiệm của Trung Quốc giải quyết vấn đề này rất thành công. Ở nước ta, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Yên Bái... cũng đang có xu hướng giải quyết như trên. Đối với vùng đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên, vận động và giao nhiệm vụ cho các lâm, nông trường quốc doanh; các đơn vị kinh tế của quân đội; làng kinh tế thanh niên giúp đồng bào với các hình thức phù hợp. Thứ ba, cải tiến cơ chế huy động, phân bổ và quản lý nguồn lực theo hướng đa nguồn, coi trọng tại chỗ của từng địa phương; có chính sách phù hợp để thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào miền núi, nhất là ưu đãi về đất, thuế; kêu gọi quốc tế, nhất là 8 tổ chức lớn: World Bank, ADB, DFID (Anh), IFAD, EU, SIDA (Thuỵ Điển), SIDA (Canada), Đức, tạo lực mạnh về tài chính cho các vùng nghèo. Thứ tư, đổi mới hệ thống cơ chế quản lý theo hướng phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ, ngành trung ương, các địa phương. Tăng cường năng lực và thẩm quyền trong quản lý và điều hành thực hiện chương trình cho tỉnh; làm rõ quyền và trách nhiệm của người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo, khắc phục tư tưởng ỷ lại. Xây dựng cơ chế khuyến khích hộ, xã tự lực vươn lên thoát nghèo và huy động, sử dụng vốn có hiệu quả. Thứ năm, tăng cường tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức của người dân; nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là ở cơ sở, cán bộ chuyên trách làm công tác giảm nghèo, cán bộ khuyến nông; tiếp tục duy trì cán bộ chuyên trách làm công tác xóa đói, giảm nghèo, cán bộ khuyến nông ở xã nghèo. Thiết lập hệ thống theo dõi, giám sát, đánh giá ở cả 4 cấp, bảo đảm tính khách quan, khoa học, góp phần chỉ đạo chương trình có hiệu quả hơn. Tác giả: Nguyễn Hải Hữu Nguồn: TC Cộng sản, số 13, tháng 7/2005, tr. 35 - 39. ********************************** |
||
