Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2005 » Số 35 » Đường lối - Chính sách » Một số giải pháp khắc phục hạn hán trong cung cấp nước sạch nông thôn vùng Tây Nguyên và Duyên hải Miền trung

Một số giải pháp khắc phục hạn hán trong cung cấp nước sạch nông thôn vùng Tây Nguyên và Duyên hải Miền trung

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 35/Đường lối - Chính sách
Đề mục : 68.01 Các vấn đề chung
Từ khoá : Khắc phục Hạn hán Cung cấp nước sạch
Từ khoá phụ : Nông thôn
Nội dung:
Do tình hình thời tiết không mưa và nắng nóng kéo dài gây nên đợt hạn hán nghiêm trọng tại các tỉnh Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và tiếp tục diễn biến phức tạp, ngày càng gay gắt. Hạn hán đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động của các công trình cung cấp nước sạch trên diện rộng, gây thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt của hơn một triệu người dân, đặc biệt các tỉnh Ninh Thuận. Bình Thuận, Đăk Lăk, Gia Lai, Đăk Nông.
Góp phần cùng những nỗ lực của các cấp chính quyền và của bà con nông dân chống hạn, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường Nông thôn đề xuất một số giải pháp trước mắt và lâu dài để có thể cung cấp nước ăn uống, sinh hoạt cho người dân ở các tỉnh Tây Nguyên và Trung bộ trong mùa khô hạn năm 2005 và những năm tiếp theo.
Các giải pháp có thể chia thành 2 nhóm:
- Nhóm giải pháp trước mắt
- Nhóm giải pháp lâu dài
I. Nhóm giải pháp trước mắt
1. Giải pháp kỹ thuật - công nghệ
Sửa chữa ngày các công trình cấp nước bị hư hỏng; khắc phục ngay sự cố rò rỉ, tiêu hao nước.
Khơi sâu thêm giếng đào, mở rộng diện tích thu nước của giếng đào, kết hợp với giếng khoan bên trong lòng giếng đào.
Nạo vét, khơi thông làm sạch đầu nguồn, nơi thu nước của các hệ thống dẫn nước tự chảy, hệ thống bơm dẫn nước. Điều chỉnh chế độ bơm và cấp nước hợp lý.
Đào mới các giếng và hố thu nước ở các khu vực ven sông, ven suối kể cả khi đã cạn nước.
Khẩn cấp khảo sát và khoan các giếng khoan khai thác nước ngầm sâu (khu vực ven biển chú ý nước nhiễm mặn). Sử dụng các giếng khoan khảo sát, thăm dò nước ngầm do các đơn vị thuộc Cục địa chất Việt Nam thực hiện và quản lý vào mục đích cung cấp nước sạch.
Bơm dẫn nước bằng đường ống dẫn nước tạm thời từ nơi còn nguồn nước đến điểm lấy nước công cộng.
Mở rộng quy mô cung cấp nước của những hệ thống cấp nước tập trung mà nguồn nước vẫn còn khả năng.
Đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình cung cấp nước sạch đang xây dựng và khẩn trương đưa vào hoạt động.
Chuyên chở nước đến nơi hạn hán nếu không thể tìm được nguồn nước tại chỗ.
2. Các giải pháp chỉ đạo, tuyên truyền, giáo dục, truyền thông.
Tăng cường công tác theo dõi tình hình và dự báo diễn biến của hạn hán; tình hình hoạt động của các công trình cấp nước và đánh giá ảnh hưởng của hạn hán đến việc cung cấp cấp nước sạch. Xây dựng các phương án cụ thể, chi tiết khắc phục, hạn chế tác động của hạn hán, bao gồm cả khả năng xấu nhất, nghiêm trọng nhất để không bị lúng túng, bị động khi xảy ra.
Phổ biến, hướng dẫn những giải pháp khắc phục hạn hán và vận động người dân chủ động tìm cách giải quyết.
Phát huy tính chủ động, tích cực của người dân. Biểu dương kịp thời những người tốt, những cách làm hay và đồng thời kỷ luật nghiêm khắc với những người thiếu trách nhiệm, gây thất thoát lãng phí nước.
Tuyên truyền sử dụng nước tiết kiệm và sử dụng nước nhiều lần.
3. Các giải pháp về tài chính
1. Các địa phương nghiên cứu và đề nghị UBND tỉnh xem xét ưu tiên sử dụng nguồn kinh phí Chương trình mục tiêu quốc gia NS&VSMT nông thôn năm 2005 cho cung cấp nước sạch vùng bị hạn hán.
2. Ưu tiên sử dụng nguồn kinh phí của địa phương, kinh phí hỗ trợ khẩn cấp của Trung ương, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ... cho mục đích cấp nước ở những nơi hạn hán nghiêm trọng.
3. Xây dựng kế hoạch và điều chỉnh kế hoạch sử dụng các nguồn vốn của Việt Nam, nước ngoài trong lĩnh vực cung cấp nước sạch để tập trung cấp nước cho những vùng chịu ảnh hưởng nặng nề của hạn hán từng bước giải quyết hạn hán.
4. Các cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương chỉ đạo và hướng dẫn chi tiết kỹ thuật, vận động người dân vùng hạn hán đóng góp và khắc phục hạn hán bằng kinh phí của mình.
II. Nhóm giải pháp lâu dài
1. Nghiêm cấm phá rừng, phòng chống cháy rừng và phát triển trồng rừng để tăng cường khả năng chứa giữ nước.
2. Tăng cường công tác quản lý tài nguyên nước và cân đối, điều tiết khai thác sử dụng nước hợp lý cho các mục đích khác nhau trong từng thời gian, đặc biệt nước cho ăn uống và sinh hoạt trong thời gian mùa khô.
3. Tăng cường phát triển nguồn nước bền vững:
Quy hoạch và xây dựng các hồ chứa nước với nhiều qui mô.
Tăng dung tích chứa giữ của các công trình khai thác nước mặt.
Bổ sung nhân tạo nước ngầm ở những nơi nguồn nước ngầm hạn chế.
4. Tập trung điều tra, khảo sát và chú trọng khai thác nước ngầm tầng sâu một cách hợp lý.
5. Chú trọng đầu tư xây dựng các công trình cấp nước bền vững, ít chịu tác động của các yếu tố khí tượng như khai thác nước ngầm tầng sâu, khai thác nước từ các hồ chứa lớn để từng bước góp phần giải quyết tương đối triệt để tình trạng hạn hán nghiêm trọng xảy ra thường xuyên. Đồng thời, hỗ trợ các phương tiẹn chứa giữ nước cho các đối tượng nghèo, gia đình chính sách xã hội.
6. Bên cạnh nguồn vốn của Việt Nam cần tăng cường kêu gọi viện trợ ODA, sự trợ giúp của các tổ chức phi chính phủ cho lĩnh vực cung cấp nước sạch nông thôn các tỉnh Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung vì hiện nay sự hỗ trợ này rất hạn chế.
Để có thể thực hiện các giải pháp giảm thiểu tác hại của hạn hán, đặc biệt những giải pháp lâu dài một cách có tác dụng, có hiệu quả nhất thiết phải có sự chỉ đạo, phối hợp của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, sự tham gia của mọi người dân kể cả người dân sinh sống ở những vùng không chịu tác động của hạn hán, những nơi chưa từng thiếu nước ăn uống và sinh hoạt.
Cần phải triển khai các giải pháp lâu dài cùng các giải pháp trước mắt để khắc phục tình trạng thiếu nước sinh hoạt khẩn cấp hiện nay đồng thời từng bước giải quyết dứt điểm ở từng nơi, từng chỗ, thu hẹp dần phạm vi ảnh hưởng của hạn hán, tránh tình trạng thường xuyên (thậm chí hàng năm) phải khắc phục hạn hán ở cùng một địa điểm trong thời gian lâu dài. đó là những giải pháp cần thiết không những trong hiện tại mà cả trong tương lai vì khí hậu toàn cầu, trong khu vực và ở Việt Nam đang và sẽ thay đổi theo xu hướng bất lợi.

Nguồn: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Số 6/2005; tr. 46-47.
****************************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia