Phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn giai đoạn 2001 – 2005 |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Nông thôn đổi mới |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 34/I. Đường lối, chính sách |
| Đề mục | : | 68.99 Các vấn đề khác của nông nghiệp và lâm nghiệp |
| Từ khoá | : | Nông nghiệp ; Nông thôn ; Kinh tế ; Phát triển ; 2001 - 2005 |
| Nội dung: | ||
|
Sau gần năm năm tổ chức thực hiện, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, nông dân các dân tộc trong tỉnh đã nỗ lực phấn đấu khắc phục khó khăn đưa kinh tế nông nghiệp nông thôn Bắc Giang đạt nhiều kết quả khả quan, được thể hiện trên các mặt sau đây:
Trước hết, nền kinh tế nông nghiệp tiếp tục tăng trưởng khá, toàn diện, sản xuất nông nghiệp liên tục được mùa, năm sau cao hơn năm trước. Nhiều chỉ tiêu do Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra đã đạt và vượt. Giá trị sản xuất ngành nông lâm nghiệp thủy sản tăng bình quân 7,82%/năm (tính theo giá cố định năm 1994); Giá trị sản xuất cây công nghiệp ngắn ngày tăng bình quân 8,3%/năm; Giá trị sản xuất cây rau thực phẩm tăng bình quân 6,26%/năm; Giá trị sản xuất cây lâu năm (chủ yếu là cây ăn quả) tăng bình quân 27,1%/năm. Đặc biệt trong những năm qua, cây ăn quả tiếp tục tăng mạnh. Trong chăn nuôi mặc dù có nhiều khó khăn do dịch bệnh gây ra nhưng ngành chăn nuôi tiếp tục phát triển. Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi thủy sản tăng bình quân 5,5%/năm; đàn bò tăng bình quân 6%/năm; đàn gia cầm tăng bình quân 6,9%/năm. Đặc biệt trong thời gian qua đã phát triển mạnh đàn ong và nuôi thả cá. Đến nay toàn tỉnh có trên 19.000 đàn ong, sản lượng đạt trên 300 tấn mật. Diện tích nuôi thả cá đạt trên 7.000 ha, sản lượng cá đạt 8.000 tấn, đạt chỉ tiêu đại hội. Toàn tỉnh đã chuyển được 7.457 ha, bằng 74,5% mục tiêu đại hội đề ra, trong đó chuyển sang trồng cây ăn quả là 3.738 ha, chuyển sang trồng cây công nghiệp ngắn ngày là 1.219 ha và chuyển sang nuôi cá là 2.500 ha. Trong lâm nghiệp, từ năm 2001 – 2004 đã trồng mới được 15.523 ha rừng tập trung, chăm sóc 31.441 ha rừng trồng, khoanh nuôi phục hồi 16.851 ha, bảo vệ 123.492 ha rừng. Nhờ vậy độ che phủ của rừng hiện tại của tỉnh đã đạt tỷ lệ 38,43% bằng 99,3% mục tiêu mà Nghị quyết đại hội Đảng bộ đề ra. Hai là, tiến bộ kỹ thuật tiếp tục được áp dụng rộng rãi vào sản xuất góp phần nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi, nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Trong trồng trọt rõ nhất là việc chuyển đổi cơ cấu mùa vụ đưa nhanh các giống mới vào sản xuất và áp dụng các biện pháp thâm canh. Đến nay, 85% diện tích lúa của tỉnh được cấy bằng các giống lúa thuần, lúa lai, giống mới so với năm 2000 tăng 35,3%; 95% diện tích ngô của tỉnh được trồng bằng các giống ngô lai. Các tiến bộ kỹ thuật về giống, về biện pháp thâm canh, luân canh khoa học đã tạo nên cho tỉnh có nhiều mô hình cánh đồng đạt giá trị cao. Toàn tỉnh hiện có 1054,5 ha diện tích đất nông nghiệp đã hoặc xấp xỉ đạt 50 triệu đồng/ha năm. Trong chăn nuôi, đàn lợn nái pha tạp đang được thay thế bằng lợn nái Móng Cái thuần và lợn nái ngoại chất lượng cao; Tỷ lệ bò lai sind đạt 15 – 20%, tỷ lệ giống cá mới có năng suất cao chất lượng tốt đã chiếm 11,1% cơ cấu giống nuôi. Chăn nuôi đã bước đầu chuyển dần sang phương thức chăn nuôi theo quy mô trang trại, từ chăn nuôi truyền thống sang chăn nuôi theo kiểu bán công nghiệp và công nghiệp. Toàn tỉnh hiện có 196 trang trại chăn nuôi thủy sản, trong đó có 6 trang trại quy mô lớn, nuôi theo phương pháp công nghiệp, có từ 100 – 600 lợn nái ngoại, trên 1.000 lợn thịt... Ba là, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề nông thôn đã được khuyến khích phát triển. Giá trị sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển với tốc độ cao, bình quân hàng năm tăng 22,1%. Toàn tỉnh hiện có 36 làng nghề trong đó có 13 làng nghề chế biến nông lâm sản thực phẩm, 14 làng nghề mây tre đan. Các huyện đã quy hoạch 20 cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp với diện tích 234 ha. Trên địa bàn nông thôn đã có 21.810 hộ chuyên sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp. Đặc biệt trong mấy năm qua đã tạo thêm nghề mới cho nông dân, tỉnh đã đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất giống nấm tại Công ty cổ phần giống Bắc Giang; tỉnh đã hỗ trợ cho nông dân trên 200 lò sấy vải bằng phương pháp gián tiếp thay thế dần các lò sấy thủ công. Bốn là, các thành phần kinh tế được trợ giúp và khuyến khích phát triển. Đến nay trong lĩnh vực nông nghiệp, toàn tỉnh đã có 164 hợp tác xã gồm 124 hợp tác xã chuyển đổi, 40 hợp tác xã thành lập mới, thu hút gần 80.000 hộ nông dân, so với năm 2000 tăng 72 hợp tác xã. Các hợp tác xã đã được chấn chỉnh về tổ chức, từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động, phần lớn các hợp tác xã đều tổ chức tốt các dịch vụ nước, tiêu thụ điện, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, 25,2% số hợp tác xã hoạt động khá và hiệu quả. Mặt khác, đã đầu tư trên 27 tỷ đồng cho trợ giá giống mới, 21,3 tỷ đồng cho trợ giá trợ cước đối với các hộ nông dân miền núi. Kinh tế trang trại tiếp tục phát triển, đã có 1.140 trang trại trong đó 845 trang trại cây lâu năm (74%), 65 trang trại lâm nghiệp, 196 trang trại chăn nuôi, thủy sản, 32 trang trại tổng hợp. Các trang trại đang sử dụng có hiệu quả 5.470,7 ha đất, tạo việc làm cho 3.834 lao động và mỗi năm thu nhập bình quân 46,1 triệu đồng. Năm là, các cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn tiếp tục được đầu tư. Một số công trình thuỷ lợi mới được hoàn thành. Chủ trương của tỉnh trong thời gian tới phải phấn đấu hoàn thành vượt mức chỉ tiêu đề ra. Để thực hiện thắng lợi chủ trương trên trong thời gian tới, cần tập trung vào một số nhiệm vụ cơ bản sau: Một là, tích cực huy động các nguồn lực, khai thác có hiệu quả tiềm năng về đất đai lao động để đẩy nhanh hơn nữa tốc độ phát triển của kinh tế nông nghiệp nông thôn. Hai là, thực hiện tố việc quy hoạch lại vùng sản xuất, chuyển mạnh sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn sản xuất với chế biến tiêu thụ. Phấn đấu nâng giá trị thu trên 1 ha đất nông nghiệp đạt 24 triệu đồng/ha năm. Đẩy nhanh việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất một cách toàn diện, để vừa nâng cao số lượng sản phẩm vừa nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Ba là, đẩy mạnh việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, phấn đấu đưa giá trị sản xuất chăn nuôi thủy sản đạt 34% trong giá trị nông lâm nghiệp thủy sản. Phấn đấu hoàn thành chuyển đổi 10.000 ha đất một vụ không ăn chắc sang trồng cây khác có giá trị cao hơn hoặc chuyển sang nuôi cá. Phát triển mạnh tiểu thủ công nghiệp ngành nghề nông thôn, chú trọng phát triển các nghề chế biến nông lâm sản thực phẩm, đẩy nhanh việc thực hiện cơ giới hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Bốn là, tập trung chỉ đạo có kết quả việc dồn điền đổi thửa theo chỉ thị số 06-CT/TU ngày 2/1/2004 của Ban thường vụ Tỉnh ủy và quy hoạch số 03/KH-UB ngày 31/1/2004 của Ủy ban nhân dân tỉnh nhằm tạo điều kiện cho các hộ thuận lợi trong canh tác, nâng cao năng suất lao động, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và chuyển đổi cơ cấu kinh tế ngay từ kinh tế hộ. Năm là, tiếp tục khuyến khích tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển. Chú trọng củng cố và phát triển kinh tế tập thể theo luật hợp tác xã mới và chương trình hành động số 24 CT/TU của Tỉnh uỷ để nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã. Thực hiện việc cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại cho các chủ trang trại để tạo điều kiện cho các chủ trang trại mở rộng quan hệ giao dịch thực hiện các chính sách khuyến khích của Nhà nước và giúp cho việc quản lý nhà nước về trang trại được tốt hơn. Sáu là, tiếp tục nâng cao năng lực quản lý và trình độ kỹ thuật cho nông dân và đội ngũ cán bộ cơ sở. Tăng cường và tạo điều kiện cho hệ thống khuyến nông lâm hoạt động có hiệu quả hơn. Để thực hiện các nhiệm vụ trên cần được các cấp ủy Đảng chính quyền tập trung lãnh đạo chỉ đạo, tỉnh cần tiếp tục đầu tư các cơ sở hạ tầng để đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Tác giả: Nguyễn Văn Liêm, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc Giang Nguồn: TC Thị trường Giá cả, tháng 5/2005, tr. 48 – 51. ******************************** |
||
