Gùi Internet về thôn xóm |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tác giả | : | Phan Hữu Dương |
| Tên nguồn trích | : | Nông thôn đổi mới |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 33/PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG |
| Đề mục | : | 20 Thông tin học |
| Từ khoá | : | tỉnh bắc ninh ; tin học ; máy tính |
| Nội dung: | ||
|
Ngày 27/3 vừa qua, tại thôn Dương Sơn xã Tam Sơn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh, Ban chỉ đạo CNTT tỉnh Bắc Ninh, Bưu điện tỉnh phối hợp với Công ty Intel Việt Nam đã "khai hội" đưa Internet về thôn. Nhìn từ góc độ kỹ thuật sẽ chẳng phải là "kỳ tích", nhưng từ góc độ đưa Internet xuống thôn, bản thì đây quả là bước đi "đột phá". Nhiều người băn khoăn, liệu Internet xuống thôn, bà con nông dân có quan tâm không? Và nếu quan tâm, thì họ có thể sử dụng được các tiện ích của mạng Internet để phục vụ đời sống dân sinh ở vùng quê, nơi mà mặt bằng dân trí chưa cao? Chính vì vậy, ngay tại buổi khai trương, "sự kiện này" đã giành được sự quan tâm sát sao của Bộ Bưu chính, Viễn thông, Ngành Bưu điện, Công ty Intel cũng như của đông đảo người dân thôn Dương Sơn.
Quyết tâm Bắc Ninh là một tỉnh nhỏ, tuy số tiền đầu tư cho CNTT rất hạn chế, tính từ năm 2003 đến thời điểm tháng 3/2005, tổng số tiền đầu tư cho ứng dụng CNTT mới khoảng 15 tỷ đồng, nhưng nhờ có các bước đi phù hợp nên tỉnh cũng đã đạt được những thành quả bước đầu khá ấn tượng. Đến nay, chương trình quản lý hồ sơ công việc qua mạng đã đi vào hoạt động ở Văn phòng UBND tỉnh và phát huy hiệu quả, Bắc Ninh cũng đã xây dựng cơ sở dữ liệu, công khai nhiều thông tin mà người dân, các nhà đầu tư quan tâm. Đến nay, một trong những vấn đề người dân quan tâm nhất là quy hoạch đất đai, Bắc Ninh đã làm xong chi tiết đến từng thửa ruộng, đất thổ cư của 52/125 xã, nhiều thông tin cụ thể về đầu tư, quy hoạch, chiến lược phát triển đều đã được đưa lên Cổng giao tiếp điện tử. Việc triển khai đưa Internet xuống thôn cũng là bước đi mạnh dạn của Bắc Ninh. Tỉnh cũng là địa phương đầu tiên của cả nước đang mạnh dạn chủ trương và quyết tâm lớn trong việc đưa Internet xuống cộng đồng. Cụ thể là xuống đến các thôn, nhằm mục đích "kích cầu" trong nhận thức của người dân, trước hết là việc làm quen với mạng Internet và tiến tới việc khai thác và ứng dụng những tiện ích của hệ thống đó. Như hiểu được quyết tâm của tỉnh, Thứ trưởng Bộ Bưu chính, Viễn thông Trần Đức Lai phát biểu : "Để rút ngắn khoảng cách phát triển kinh tế giữa các vùng, miền thì Nhà nước phải có nhiều chính sách, còn với Ngành Bưu điện là đưa dịch vụ về gần với bà con hơn. Chính vì thế, chủ trương của tỉnh nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của Bộ". Thứ trưởng nhấn mạnh: "Bắc Ninh là tỉnh đi đầu trong chủ trương đưa Internet về thôn nên cần phải làm thật tốt mô hình này". Để dẫn chứng cho quyết tâm "vượt khó", ông Vũ Đức Đam, Phó Chủ tịch tỉnh, cho biết "Tỉnh đã cử tất cả 5000 lượt cán bộ đi học về máy tính và ngoại ngữ, nhưng anh Mão (Ông Nguyễn Hữu Mão chánh Văn phòng Ban chỉ đạo CNTT tỉnh) lúc nhận nhiệm vụ chưa trải qua một lớp đào tạo nào về CNTT nên anh Mão rất "lo". Nhưng đến nay, anh đã sử dụng thành thạo, hầu như các công việc liên quan đều sử dụng máy tính. Với sự quyết tâm của mình, anh Mão đã làm nhiều cán bộ chủ chốt ở các ban ngành phải "lác mắt". Ông Đam nhấn mạnh, "nói vậy không phải là coi nhẹ công tác đào tạo mà vấn đề quyết định hơn là lòng quyết tâm. Có quyết tâm thì khó mấy cũng làm được". Kỳ vọng Bắc Ninh đã quyết tâm, tại buổi trình diễn đưa Internet về thôn Dương Sơn, Thứ trưởng Trần Đức Lai kỳ vọng Bắc Ninh sẽ làm tốt mô hình này để nhân rộng ra cả nước. Ông Thân Trọng Phúc - Tổng Giám đốc Công ty Intel Việt Nam lại "tham vọng" cao hơn: "Khi Intel phối hợp với Bắc Ninh làm "điểm trình diễn" đầu tiên ở Việt Nam, Intel kỳ vọng qua mô hình này có thể sẽ nhân rộng ra toàn thế giới, đặc biệt là ở các nước có nhiều điều kiện như Việt Nam (Philippine, Trung Quốc, Ấn Độ...) Trở lại với việc đưa Internet về thôn, phải khẳng định rằng về mặt kỹ thuật sẽ không mấy khó khăn, quan tọng hơn là phát huy hiệu quả như thế nào, tỉnh Bắc Ninh đã chú trọng đến khâu đào tạo các cán bộ trông coi các điểm Bưu điện - Văn hóa xã và sắp tới là ở các thôn. Đồng thời chú tọng việc xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin và cập nhật thông tin sát sao với yêu cầu của người dân. Ngay tại buổi trình diễn, trả lời nhiều câu hỏi của bà con, không phải cái gì cũng đã có ở trên mạng nhưng những thông tin "gặt" được cũng làm bà con thấy có ý nghĩa. Có người hỏi về quy hoạch đất đai, Bắc Ninh đã cho lên mạng chi tiết đến hình dáng, vị trí của từng miếng đất, ai đứng tên, nhiều thông tin về nông nghiệp, chăn nuôi, thông tin về các làng nghề trong tỉnh, cách xử lý rác thải, quy hoạch các khu công nghiệp... Ngoài ra, khi có các ý kiến, vấn đề cần phản ánh, bà con có thể gọi điện thoại trực tiếp hoặc liên hệ quả email cho lãnh đạo tỉnh. Đó là những tín hiệu mừng về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT ở Bắc Ninh, nhưng không phải đưa Internet về thôn là mọi việc đã suôn sẻ, đã hết khó khăn. Hãy hình dung các thầy, cô giáo vùng cao "gùi" từng con chữ đến với đồng bào các dân tộc khó khăn, vất vả biết nhường nào, nhưng nhờ có quyết tâm "cái chữ" đã đến với bao người. Nay, Internet về thôn, bản chúng ta cũng cần nhiều chiến sĩ như các thầy giáo vùng cao, "gùi" Internet về bản làng. Ý thức được vấn đề, tin tưởng Bắc Ninh sẽ làm tốt công tác đưa Internet về thôn, xóm, để buổi trình diễn tại thôn Dương Sơn thật sự có ý nghĩa là bước đi "đột phá" trong việc đẩy mạnh ứng dụng Internet trong cộng đồng, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Các điểm Bưu điện - Văn hóa xã ra đời đã rút ngắn khoảng cách tới các điểm giao dịch dịch vụ Bưu chính, Viễn thông của người dân bình quân từ 8 - 10 km xuống còn 1,6km. Việc rút ngắn khoảng cách đó thật sự có ý nghĩa với bà con ở vùng nông thôn, miền núi, hải đạo. Khoảng cách đó còn có thể được rút ngắn hơn nữa, không chỉ về mặt địa lý mà còn có ý nghĩa thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, mở ra triển vọng mới cho việc đưa các dịch vụ Viễn thông, Bưu chính, Internet xuống cộng đồng, tạo tiền đề phát triển tăng tốc cho ngành Bưu chính, Viễn thông và CNTT Việt Nam trong những năm tới. Nguồn: Tạp chí Xã hội thông tin, Kỳ II, số 13, 4/2005, tr. 9 |
||
