Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2005 » Số 33 » CÁC VẤN ĐỀ KHÁC » Vai trò của công nghệ sinh học trong nông nghiệp

Vai trò của công nghệ sinh học trong nông nghiệp

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tác giả : Quốc Hưng
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 33/CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
Đề mục : 62 Công nghệ sinh học
Từ khoá : Công nghệ sinh học nông nghiệp
Nội dung:
Công nghệ sinh học là một công nghệ mới mang nhiều hứa hẹn. Việc tăng cường sử dụng và trao đổi các sản phẩm công nghệ sinh học trong nông nghiệp đang thúc đẩy sự phồn vinh ở cả các nước phát triển và các nước đang phát triển.
Khác với mọi phương pháp cổ điển đó, công nghệ sinh học cho phép các nhà khoa học lựa chọn một loại gen cho một đặc điểm mong muốn và đưa nó vào trong các tế bào để cây trồng mang đặc điểm đó. Xét ở nhiều khía cạnh, nó đơn thuần chỉ là bản sao của việc lai tạo truyền thống. Ngoài ra công nghệ sinh học còn cho phép các nhà khoa học có thể tích hợp gen của các loài khác - điều mà cách lai tạo thông thường không thể thực hiện được.
Một số người lại lo ngại công cụ này vì nó phi tự nhiên. Tuy nhiên, chúng ta sẽ không có các cây trồng mới như ngày nay nếu không có sự can thiệp của con người, mặc dù chỉ qua lai tạo, sử dụng phân bón, làm thủy lợi hay sử dụng các thiết bị hiện đại. Công nghệ sinh học đơn thuần là một công cụ hiện đại trong lịch sử ngành trồng trọt và nông nghiệp.
Công nghệ sinh học với sự phát triển xã hội
Trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghệ sinh học đã thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc gia. Do áp dụng công nghệ sinh học nên ngành trồng trọt và chăn nuôi ở châu Phi có mức tăng 3-4%/năm, bình quân thu nhập đầu người tăng gần 3 lần, số trẻ em suy dinh dưỡng giảm 40%. Năng suất nông nghiệp tăng là động lực cho tăng trưởng kinh tế và mở rộng những cơ hội phát triển thương mại, tạo ra nhiều việc làm, nâng cao chất lượng y tế, giáo dục...
Chỉ có nông nghiệp thì không đủ cung cấp đủ lương thực cho thế giới ngày mai, nhưng nếu kết hợp công nghệ sinh học với nông nghiệp, sẽ có ảnh hưởng sâu rộng, năng suất, hàm lượng dinh dưỡng cây trồng sẽ tăng, đồng thời cung cấp lương thực với giá thấp hơn cho người tiêu dùng có thu nhập thấp.
Vai trò của công nghệ sinh học trong nông nghiệp
Công nghệ sinh học đã và đang làm thay đổi bộ mặt của ngành nông nghiệp Mỹ kể từ năm 1966. Các nước đang phát triển là những khu vực quan trọng nhất trên thế giới trong việc mang lại ổn định và phồn vinh kinh tế. Năng suất nông nghiệp tại những nước này phải tăng nhanh hơn để đáp ứng nhu cầu lương thực ngày càng tăng và để nâng cao thu nhập nhưng vẫn bảo vệ môi trường cho các thế hệ tương lai. Công nghệ sinh học đã đóng góp một phần quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu này.
Tại Mỹ, các chủ trang trại đã chấp nhận các giống cây được tạo ra nhờ công nghệ sinh học, thể hiện qua việc sử dụng các giống cây đó với tốc độ nhanh. Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), năm 2003, có 80% đỗ tương, 38% ngô và 70% bông tại Mỹ được gieo trồng bằng các giống lai công nghệ sinh học. Mỹ không phải là nước duy nhất thực hiện bước phát triển mới trong lĩnh vực này. Tỷ lệ áp dụng giống lai công nghệ sinh học tại Argentina, Canada, Trung Quốc - nơi cho phép sử dụng giống lai công nghệ sinh học, cũng tăng nhanh.
Công nghệ sinh học và các khía cạnh thương mại
Bất chấp những lợi ích mà công nghệ sinh học mang lại cho các nước phát triển và đang phát triển, các giống cây trồng được tạo ra nhờ công nghệ sinh học hiện là trung tâm của các cuộc tranh chấp thương mại gây nhiều bất đồng. Đây là một hiện tượng thực tế mặc dù hơn 3.200 nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới- trong đó có nhiều người đoạt giải Nô-ben- đã kết luận rằng các sản phẩm có sử dụng công nghệ sinh học trên thị trường hiện nay không ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ con người so với những sản phẩm thông thường khác.
Giải pháp duy nhất nhằm duy trì một hệ thống thương mại công bằng và tự do là để các sản phẩm trao đổi trong hệ thống được quản lý một cách hợp lý, khách quan và khoa học. Khi một hệ thống như vậy được áp dụng, chúng ta có thể tin tưởng vào độ an toàn của sản phẩm trên thị trường.
Công nghệ sinh học dưới khía cạnh môi trường
Công nghệ sinh học không chỉ đem lại những lợi ích kinh tế đáng kể cho người nông dân, mà ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy công nghệ sinh học còn mang lại những lợi ích to lớn về an toàn lương thực và môi trường.
Những kết quả sử dụng công nghệ sinh học tại Mỹ cho thấy, việc sử dụng thuốc trừ sâu đã giảm đáng kể, môi trường vẫn được bảo đảm trong khi sản lượng vẫn tăng và tiết kiệm chi phí sản xuất. Mặc dù kết quả sử dụng công nghệ sinh học đối với từng địa phương có khác nhau nhưng những lợi ích kinh tế do nó mang lại rất rõ ràng, không chỉ đối với người sử dụng mà còn đối với cả môi trường và người tiêu dùng. Các giống cây lai theo công nghệ sinh học ít phụ thuộc vào hóa chất đầu vào do đó nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước thấp hơn. Việc hạn chế sử dụng hoá chất sẽ tăng độ an toàn của nguồn nước, đảm bảo môi trường tốt hơn cho sinh vật trong tự nhiên.
An toàn thực phẩm và công nghệ sinh học
Những nghiên cứu hiện có sẽ đưa tới các loại cây lương thực có khả năng chống lại sức ép môi trường như hạn hán, thay đổi nhiệt độ đột ngột hay đất nhiễm mặn. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đang nghiên cứu thế hệ thứ hai của các sản phẩm công nghệ sinh học- những sản phẩm mang lại lợi ích trực tiếp cho người tiêu dùng. Các nhà khoa học Ấn Độ đang nghiên cứu và phát triển một giống khoai tây có hàm lượng protein cao hơn. Cây trồng cũng có thể nên những vaccin ăn được, đem lại những loại thuốc với chi phí sản xuất thấp.
Đây mới chỉ là một vài trong số rất nhiều những ví dụ về các nghiên cứu mũi nhọn nhằm thúc đẩy hơn nữa những thay đổi trong ngành lương thực thế giới. Những triển vọng mà nó mang lại là vô cùng to lớn. Các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng, không hề có bằng chứng cho thấy các sản phẩm lương thực thông thường. Thực ra, bất kỳ mặt trái nào mà người ta nói về công nghệ sinh học nông nghiệp vẫn còn dựng lại ở khía cạnh lý thuyết và khả năng. Còn những ưu điểm của loại công nghệ này đã được chứng minh và kiểm nghiệm.
Công nghệ sinh học có vai trò quan trọng đối với sự thịnh vượng trong tương lai của thế giới nhưng thách thức đặt ra là làm thế nào để có nhiều nước đang phát triển tiếp cận được với công nghệ mới mẻ này.

Nguồn: Thông tin KH&CN Phú thọ, Số 2/2005, tr. 33 - 34
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia