Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2005 » Số 33 » ĐƯỜNG LỐI - CHÍNH SÁCH » Chương trình khuyến ngư phát triển nuôi trồng thuỷ sản biển thời kỳ 2006-2010

Chương trình khuyến ngư phát triển nuôi trồng thuỷ sản biển thời kỳ 2006-2010

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 33/ĐƯỜNG LỐI - CHÍNH SÁCH
Đề mục : 69.09 Tài nguyên thuỷ sản. Nuôi trồng thuỷ sản
Từ khoá : Khuyến ngư Nuôi trồng thuỷ sản
Nội dung:
Năm 2003, cả nước có hơn 6.800 ô lồng nuôi cá biển, tập trung chủ yếu ở Quảng Ninh và Hải Phòng, trong đó Quảng Ninh là 4.205 ô lồng, chiếm 61,83%, Hải Phòng 2.000 ô lồng, chiếm 29,41%. Ngoài ra, các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh... cũng đã có chủ trương phát triển nuôi biển nhưng ở quy mô nhỏ.
Nghề nuôi biển ở nước ta đã có những bước tiến khá nhanh so với một số nước trong khu vực. Tuy nhiên, sự thành công đang ở quy mô nhỏ. Cơ sở vật chất cho sản xuất giống cá biển còn thiếu đồng bộ, cá bố mẹ thiếu nên chưa chủ động sản xuất con giống. Cơ sở dịch vụ hậu cần còn hạn chế, đặc biệt là các trang thiết bị chuyên dùng, thức ăn... Thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa ổn định nên chưa tạo đà cho sản xuất phát triển.
Định hướng thời kỳ 2006 - 2010:
Căn cứ vào điều kiện thực tiễn và xu thế phát triển, thời kỳ 2006 - 2010, chương trình khuyến ngư có những định hướng cụ thể sau:
1. NTTS nói chung và nuôi thủy sản biển nói riêng là kinh tế nhiều thành phần, do đó phải tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho các tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất NTTS biển theo hướng sản xuất hàng hóa.
2. Quy hoạch các vùng nuôi công nghiệp với những loài có năng suất, sản lượng cao, giá trị kinh tế lớn. Đẩy mạnh công tác chuyển giao kỹ thuật những công nghệ mới, tiên tiến.
3. Đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất con giống, thức ăn công nghiệp phục vụ NTTS biển và hình thành hệ thống hậu cần dịch vụ bao gồm từ khâu tư vấn kỹ thuật, cung ứng con giống, vật tư và tiêu thụ sản phẩm.
4. Đẩy mạnh sản xuất NTTS biển theo hướng đa loài, tạo sản phẩm đa dạng, đáp ứng các yêu cầu và biến động của thị trường, hạn chế dịch bệnh và rủi ro. Sản xuất NTTS biển phải đảm bảo sự kết hợp chặt chẽ với bảo vệ cảnh quan tự nhiên, môi trường sinh thái, tái tạo nguồn lợi lâu bền nhằm khai thác hợp lý tiềm năng diện tích mặt nước ở các eo vịnh, vùng biển quanh các đảo và các bãi gần bờ có khả năng NTTS biển. Phát triển nuôi theo hướng bền vững, tạo việc làm và góp phần ổn định đời sống cho ngư dân, từng bước chuyển một bộ phận ngư dân làm nghề khai thác ven bờ sang NTTS biển. Tạo sản phẩm hàng hóa, cung cấp nguyên liệu chế biến xuất khẩu.
Nghề NTTS biển ở nước ta phải phát triển với phương châm đa loài. Muốn vậy, trước tiên nên chú trọng đến việc nhập công nghệ và chuyển giao công nghệ sản xuất giống và nuôi các đối tượng cá biển, nhuyễn thể, giáp xác và rong biển cho từng vùng, từng địa phương và từng cơ sở. Tổ chức tập huấn kỹ thuật cho cán bộ khuyến ngư và ngư dân. Xây dựng các mô hình nuôi thương phẩm và tổng kết phổ biến kỹ thuật cho ngư dân, các địa phương và các cơ sở sản xuất. Tham quan học tập các công nghệ mới, các mô hình điển hình trong và ngoài nước, phù hợp với điều kiện thực tiễn ở nước ta và có khả năng ứng dụng cao.
Giải pháp phát triển:
Về khoa học - kỹ thuật
- Chuyển giao khoa học kỹ thuật nuôi phù hợp với từng hình thức nuôi và thủy vực nuôi như nuôi trong áng, vụng, nuôi bằng lồng bè trên biển và nuôi ở các bãi gần bờ
- Quy hoạch các vùng nuôi trên biển, hình thành các khu vực nuôi tập trung, tạo nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu và tiêu thụ nội địa.
- Xây dựng các mô hình ứng dụng và chuyển giao các công nghệ tiên tiến ở trong nước và nước ngoài, tạo điều kiện cho ngư dân và các cơ sở sản xuất tham quan học tập.
- Di nhập và thuần hóa các đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế cao, sức đề kháng tốt, dễ tiêu thụ, bao gồm các loài cá, nhuyễn thể...
- Nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật và dân trí cho ngư dân, trong đó tập trung chủ yếu vào bộ phận ngư dân làm nghề khai thác ven bờ, sống thủy cư.
- Hình thành các cơ sở dịch vụ hậu cần, đảm bảo khả năng sản xuất và cung ứng đủ giống, thức ăn và thuốc phòng trị bệnh cho nghề nuôi biển.
Về tổ chức quản lý và cơ chế chính sách:
- Xây dựng và củng cố tổ chức khuyến ngư từ cấp tỉnh đến các địa phương và cơ sở, đảm bảo đủ mạnh để đóng vai trò chủ đạo trọng quản lý và điều hành sản xuất.
- Hình thành hệ thống sản xuất kinh doanh NTTS từ tỉnh đến địa phương và tạo cơ sở vật chất kỹ thuật để liên doanh với nước ngoài.
- Khuyến khích phát triển các mô hình sản xuất gắn liền các khâu từ sản xuất đến dịch vụ chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Sản xuất kinh doanh tổng hợp, đa dạng.
- Đẩy mạnh liên doanh liên kết với các thành phần kinh tế trong và ngoài nước tạo sức mạnh tổng hợp để giải quyết vốn, vật tư, kỹ thuật, năng lực quản lý.
- Hoàn thiện các chính sách nhằm khuyến khích phát triển NTTS biển, bao gồm: Chính sách giao và sử dụng mặt nước, chính sách ưu đãi về vốn, hỗ trợ rủi ro, chính sách về khuyến ngư...

Nguồn: TC Thủy sản, Số 7/2005, tr. 32 - 33
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia