Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

Giá cả thị trường

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 32/Bảo quản - Chế biến - Tiêu thụ
Đề mục : 06.61 Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ. Kinh tế theo vùng
Từ khoá : Giá cả thị trường
Nội dung:
Diễn biến thị trường cà phê trong và ngoài nước tuần từ 25-29/7/2005
Thị trường thế giới
Sau khi giảm xuống mức thấp nhất 8 tháng hồi tuần trước, giá cà phê thế giới tuần qua có xu hướng tăng nhưng không ổn định trước nhu cầu giao dịch thất thường của các quỹ hàng hoá và các nhà đầu cơ.
Tại New York, giá cà phê Arabica ngày 29/7 đạt 2.292 USD/tấn, tăng 82 USD so với cuối tuần trước. Trong khi đó, tại London, giá cà phê Robusta có xu hướng giảm từ 1112 USD/tấn tuần trước xuống còn 1084 USD/tấn.
Thời gian qua, giới lại một lần nữa chứng kiến tính bất ổn của mặt hàng này trên các thị trường giao dịch. Chỉ một thông tin về sự thay đổi thời tiết tại các vùng trồng cà phê chính trên thế giới sẽ gây biến động về giá trên các thị trường. Tuy nhiên, bên cạnh nguyên nhân về thời tiết tác động còn có nhiều nguyên nhân khác ảnh hưởng tới giá cà phê trong dài hạn, như lượng tiêu thụ trên toàn thế giới.
Tiêu thụ cà phê của thế giới phụ thuộc vào mức sống và trình độ công nghiệp hoá ở mỗi nước. Khoảng 25% sản lượng cà phê thế giới (tương đương 23 triệu bao) do các nước trồng cà phê tự tiêu thụ; 75% được tiêu thụ tại các nước nhập khẩu (tương đương 95 triệu bao).
Tổng mức tiêu thụ cà phê toàn cầu đã tăng liên tục trong giai đoạn 1995, 1996 đến 1999, 2000 với tốc độ tăng trưởng bình quân 2,05%/năm. Trong đó tốc độ tăng của các nước nhập khẩu cà phê là 2,25%/năm trong thập niên 90; các nước xuất khẩu là 1,5%/năm. Mức tiêu thụ cà phê bình quân đầu người/năm dao động trong khoảng 4,5 – 4,7kg. Trong đó Mỹ: 4,1 – 4,2kg, các nước EU: 5,2 - 5,5kg (trong đó Phần Lan cao nhất: 11 kg, Đan Mạch và Thuỵ Điển trên 8kg và thấp nhất là Anh trên 2 kg); Nhật Bản khoảng 3kg. Các nước sản xuất cà phê, mức tiêu thụ bình quân đầu người thấp chỉ 1 kg.
Dự kiến, trong giai đoạn 2000 – 2010, mức tiêu thụ cà phê chỉ tăng khoảng 1,9%/năm (trong khi thập kỷ trước tốc độ tăng trưởng 2,05%). Như vậy, mức tăng tiêu thụ cà phê đã giảm đi chủ yếu do sự suy giảm về mức tiêu thụ ở các thị trường truyền thống Tây Âu và Bắc Mỹ. Đáng chú ý là tiêu thụ cà phê ở các nước đang phát triển dự báo sẽ tăng 2,5%/năm. Tốc độ tăng tiêu thụ cà phê của các nước phát triển đạt khoảng 1,3%/năm.
Dự báo, giá cà phê tuần tới sẽ chưa thể phục hồi mạnh như vài tháng trước đây và sẽ còn biến động phức tạp, do thiếu thông tin về cung cầu cà phê các nước sản xuất và tiêu thụ lớn và chịu sự ảnh hưởng của sự thay đổi thời tiết.
Thị trường trong nước
Giá cà phê thu mua trong nước tuần qua đã phục hồi đôi chút so với tuần trước do tác động của giá thế giới.
Tại Đắc Lắc, giá cà phê nhân xô vối cuối tuần đứng ở mức 16.000 đồng/kg, cao hơn so với 15.500 - 15.600 đồng/kg tuần trước. Giá cà phê robusta loại 2, 5% hạt đen và vỡ xuất khẩu cũng tăng lên trên 1.015 USD/tấn, FOB Sài Gòn.
Trong tuần qua, cả nước đã xuất khẩu được 3,9 nghìn tấn cà phê, đạt kim ngạch 3,6 triệu USD. Xuất khẩu sang thị trường Đức trong tuần đạt kim ngạch 563 nghìn USD với giá trung bình 927 USD/tấn. Tiếp đến là thị trường Pháp với kim ngạch xuất khẩu đạt 549 nghìn USD, giá xuất 1107 USD/tấn. Trong tuần qua, xuất khẩu cà phê sang thị trường Mỹ đạt kim ngạch rất thấp, khoảng 293 nghìn USD.
Thị trường cà phê hiện nay tiếp tục chịu ảnh hưởng họat động bán ra của giới kinh doanh trước vụ mới sắp đến.
Dự báo, giá cà phê robusta sẽ không giảm nhiều trong thời gian tới do nguồn cung cà phê robusta trên thị trường thế giới đang ở mức thấp. Đây có thể là thời điểm thích hợp để các khách hàng có thể mua được cà phê với giá thấp, bởi giá cà phê có thể tăng trở lại nếu có những thông tin không khả quan về vụ mùa sắp đến. Biến động thị trường cà phê sẽ phụ thuộc nhiều vào thông tin về sản lượng niên vụ mới của các quốc gia sản xuất chính sẽ được đưa ra trong một vài tháng nữa.
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 4/8/2005
***************************
Thị trường phân bón trong nước tuần kết thúc ngày 31/7/2005
Giá bán urê tiếp tục giảm. Giá nhập khẩu đứng ở mức 261 USD/tấn
Giá phân bón giảm ở hầu hết các tỉnh phía Nam; tại ĐBSCL, giá urê nhập khẩu giảm 50-60 đ/kg còn 4800-4880 đ/kg; Urê Phú Mỹ giảm 70-100 đ/kg còn 4.600-4.700 đ/kg. Lâm Đồng giá phân urê TQ giảm 50 đ/kg đứng ở mức 4700 đ/kg, DAP Úc cũng giảm 70 đ/kg còn 5.300 đ/kg. Tuy nhiên tại Hà Nội giá phân urê ổn định ở mức 4750-4.800 đ/kg.
Nguyên nhân của sự giảm giá này là do hiện nay do hiện nay đang là thời điểm kết thúc vụ hè thu (một tháng nữa mới đến vụ mùa), nhu cầu sử dụng phân bón giảm, mức tiêu thụ phân bón trên thị trường chậm.
Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong tuần từ 18-23/7, nhập khẩu phân bón tăng khá so với tuần trước. Trong đó, nhập khẩu urê đạt 14,8 nghìn tấn, trị giá 3,8 triệu USD – giá nhập ổn định so với tuần trước (từ 193-194 USD/tấn, DAF Móng Cái; 259 USD/tấn, CIF cảng Phú Mỹ và 261 USD/tấn, CFR Bến Nghé); nhập khẩu DAP đạt 12,6 nghìn tấn, trị giá 3,8 triệu USD; nhập khẩu NPK 6,3 nghìn tấn với trị giá 1,6 triệu USD…
Ước tính trong tháng 7/05, tổng nhập khẩu phân bón các loại đạt 250 nghìn tấn, trị giá 60 triệu USD, nâng tổng nhập khẩu 7 tháng đầu năm lên gần 1,6 triệu tấn, trị giá 354 triệu USD (tương ứng 75,2% và 93,5% so với cùng kỳ năm 2004). So với tháng 6/05, nhập khẩu tăng 10,9% về lượng và tăng 10,6% về trị giá. Riêng nhập khẩu urê tháng 7 ước đạt 100 nghìn tấn, trị giá 27 triệu USD, nâng tổng nhập khẩu 7 tháng lên 504 nghìn tấn, trị giá 133 triệu USD. So với cùng kỳ năm 2004, nhập khẩu urê giảm 42,5% về lượng và giảm 20,8% về trị giá; so với tháng 6/05, nhập khẩu tăng 7,6% về lượng song chỉ tăng 2% về trị giá. Điều này cho thấy, giá nhập urê ngày càng giảm (giá nhập khẩu urê trung bình tháng 7 đã giảm từ 2,5-3,9% so với hai tháng trước).
Trước tình trạng phân bón tiêu thụ chậm và ứ đọng nhiều, ngày 27/7/2005, Công ty Phân đạm hoá chất dầu khí (cơ quan chủ quản của Nhà máy Đạm Phú Mỹ) đã quyết định hạ giá bán phân urê xuống còn 4200 đ/kg (tức giảm thêm 300 đ/kg). Không chỉ giảm giá bán, công ty còn dành ưu đãi đặc biệt cho các doanh nghiệp mua với số lượng lớn. Theo đó, doanh nghiệp mua từ 30.000 tấn trở lên sẽ được công ty giảm giá thêm 1% nữa.
Việc đạm Phú Mỹ giảm giá đã gặp phản ứng khá gay gắt từ các doanh nghiệp nhập khẩu. Giải pháp mà một số công ty đưa ra là găm hàng lại để chờ tăng giá, dù chi phí lưu kho, lãi suất ngân hàng (vẫn phải đóng hàng tháng) sẽ là áp lực rất lớn mà công ty phải chịu. Trong khi đó, việc giảm thuế giá trị gia tăng từ mức 5% xuống 0% có tháo gỡ một phần nào khó khăn cho tình hình cung cầu phân bón trong nước tiếp tục gây nhiều tranh cãi. Ngành phân bón tiếp tục xin giảm thuế VAT nhập khẩu xuống 0% trong khi Bộ Tài chính vẫn bảo vệ quan điểm giữ nguyên thuế suất.
Dự báo, nhu cầu tiêu thụ phân bón vụ mùa sẽ tăng cao với 560 nghìn tấn; trong đó, miền Bắc 220 nghìn tấn, miền Trung 90 nghìn tấn và Nam Bộ 250 nghìn tấn. Cân đối số lượng urê đã nhập về có trong kho tính đến ngày 15/7 và lượng urê sản xuất trong nước của 2 nhà máy phân đạm trong nước thì hoàn toàn đáp ứng đủ nhu cầu Urê vụ mùa 2005 nên khả năng giá phân bón thời gian tới sẽ không biến động lớn.
Tham khảo một số lô hàng phân urê nhập khẩu từ 18-23/7/2005
Thị trường Chủng loại Giá (USD/tấn) Lượng (tấn) Cửa khẩu Đ/k giao
Indonesia Phân đạm Urê, hàng rời 26,1 5.339 Cảng Bến Nghé CFR
Qatar Phân đạm Urê 259 8.500 Cảng Phú Mỹ CIF
Trung Quốc Phân đạm Urê, Nitơ >=46,3% 193 353 Cửa khẩu Móng Cái DAF
Trung Quốc Phân đạm Urê, Nitơ >=46,3% 194 400 Cửa khẩu Móng Cái DAF
Trung Quốc Phân đạm Urê, Nitơ >=46,4% 193 220 Cửa khẩu Móng Cái DAF
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 4/8/2005
****************************
Diễn biến thị trường đường trong nước tuần từ 25-31/7/05
Trong tuần từ 25-31/7/05, giá đường kết tinh trắng nhảy thêm 1 nấc thang mới tăng 500 đ/kg so với tuần trước, đạt mức 9.000 đ/kg ở hầu hết các tỉnh: Cần Thơ, Đồng Tháp, Trà Vinh, Tiền Giang, Vĩnh Long,…
Nguyên nhân của đợt tăng giá này do nguồn cung không đáp ứng đủ cầu và đang trong đợt nắng nóng của mùa hè. Thêm vào đó là nhu cầu dùng đường cho dịp Tết Trung thu đang đến gần đã tác động mạnh đến thị trường đường trong cả nước. Sản lượng đường niên vụ 2004/05 cả nước thiếu hụt 150.000 tấn đường, dự tính lượng đường tiêu thụ trung bình trong 1 tháng là 90.000 tấn/tháng và còn khoảng hơn 2 tháng nữa cả nước mới bước vào vụ thu hoạch mới. Không những thế, khác với mọi năm, vào thời điểm này lượng đường nhập khẩu qua đường tiểu ngạch từ biên giới Tây Nam về Việt Nam dồi dào, nhưng năm nay rất hạn chế do mùa lũ đến sớm gây khó khăn cho việc vận chuyển, trong khi nhu cầu đường mùa hè tăng cao, càng hỗ trợ giá.
Như vậy mức chênh lệch giữa cung và cầu đường ngày càng gia tăng ảnh hưởng trực tiếp đến giá đường thời gian qua và trong thời gian tới giá đường vẫn đứng ở mức cao khi mà nguồn cung chưa được cải thiện.
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 4/8/2005
****************************
Thị trường gạo châu Á ngày 2/8/05: giá tăng do nhu cầu cao
Ngay phat tin: 03/08/05
Giá xuất khẩu gạo Việt Nam hầu hết tăng trong ngày 2/8/05 do nhu cầu cao. Ở đồng bằng sông Cửu Long, các doanh nghiệp nhà nước đang bận rộn mua gạo để thực hiện những hợp đồng đã ký từ mấy tuần trước.
Mặc dù Chính phủ chưa chính thức tăng hạn ngạch xuất khẩu cho năm nay, song theo thông tin từ các thương gia, tính đến nay các doanh nghiệp đã ký hợp đồng xuất khẩu tổng cộng trên 4 triệu tấn gạo.
Tháng 6, Chính phủ ra hạn ngạch xuất khẩu 3,8 triệu tấn gạo để đảm bảo an toàn lương thực quốc gia. Song mới đây, Bộ Nông nghiệp đã đề nghị Chính phủ tăng hạn ngạch lên 4,1 triệu tấn.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long, các thương gia đang chào bán gạo 5% tấm chất lượng cao giá 253 USD/tấn, tăng so với mức 247 USD/tấn một tuần trước đây, trong khi gạo 25% tấm giá chào bán tăng từ 236 USD/tấn lên 240 USD/tấn.
Tính đến cuối tháng 7, các thương gia đã ký hợp đồng xuất khẩu tổng cộng 3,14 triệu tấn gạo, trị giá 869 triệu USD, tăng 13,4% về khối lượng và 35,9% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.
Tuần này, 18 tàu đang chờ ở cảng Sài Gòn để bốc xếp tổng cộng 331.200 tấn gạo chở sang Cuba, Iran, châu Phi và Philippine.
Tuần trước, 5 tàu đã rời cảng Sài Gòn chở theo 53.765 tấn gạo sang châu Phi, Malaysia và Philippine.
Tại Thái Lan, khách hàng quốc tế bắt đầu quay trở lại mua gạo sau nhiều tháng vắng bóng vì mức chênh lệch giá so với gạo Việt Nam rút ngắn dần, từ 40-50 USD/tấn xuống 20-25 USD/tấn.
Gạo 100% B hiện có giá 286 USD/tấn, FOB Bangkok, tăng so với 280-285 USD/tấn một tuần trước đây. Gạo 5% tấm có giá chào bán khoảng 279 USD/tấn, cũng cao hơn so với 277 USD/tấn một tuần trước đây.
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 4/8/2005
**************************
Giá xuất khẩu hạt điều tăng cao
Giá hạt điều xuất khẩu tăng mạnh trong thời gian gần đây, đã hỗ trợ giá điều trong nước liên tiếp tăng và diện tích trồng điều ngày càng mở rộng thêm. Giá hạt điều xuất khẩu hiện 4.900 USD/tấn (tăng 30 – 50% so với vài năm trước đây),^ giá điều trong nước cũng đạt mức 18.000 – 19.000 đ/kg. Diện tích trồng điều tăng 40% so với năm 2000.
Theo số liệu của Cục Chế biến nông lâm sản và nghề muối (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), đến nay, diện tích trồng điều của cả nước đạt trên 350.000 ha (trong đó khoảng 130.000 ha trồng các giống điều cao sản), tăng gần 40% so với năm 2000; tập trung chủ yếu ở các tỉnh vùng miền Đông Nam bộ, trong đó chỉ riêng 3 tỉnh là Bình Phước, Bình Dương và Đồng Nai chiếm gần 2/3 diện tích điều của cả nước. Đặc biệt, tình Bình Dương hiện có tốc độ phát triển diện tích trồng điều nhanh nhất, từ 65.000 ha trong năm 2000 lên 110.000 ha vào cuối năm 2004 và là tỉnh hiện đứng đầu cả nước về diện tích, sản lượng hạt điều thô (năm 2004 đạt 97.000 tấn trong tổng số 350.000 tấn) cùng với trên 70 cơ sở, nhà máy chế biến.
Đánh giá của Hiệp hội Cây điều Việt Nam cho thấy, một trong những nguyên nhân thúc đẩy diện tích trồng điều trong mấy năm gần đây tăng khá nhanh là nhờ giá xuất khẩu nhân điều thời qian qua đã tăng liên tục. Đặc biệt từ cuối năm 2004 đến nay, giá xuất khẩu điều nhân đã tăng mạnh và chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm nay, cả nước đã xuất khẩu được khoảng 43.000 tấn nhân điều đạt giá trị gần 209 triệu USD; tính ra mức giá bình quân đạt xấp xỉ 4.900 USD/tấn, tăng khoảng 30 - 50% so giá bình quân của vài ba năm trước đây. Nhờ vậy, trong 6 tháng qua, lượng nhân điều xuất khẩu giảm khoảng 6,5% nhưng giá trị đã tăng tới trên 30% so cùng kỳ năm 2004.
Về năng lực chế biến, tính đến nay, các cơ sở nhà máy chế biến nhân điều trong cả nước có khả năng chế biến khoảng 400.000 – 450.000 tấn điều thô/năm. Trong khi đó, theo ước tính của ngành nông nghiệp, do hạn hạn nghiêm trọng kéo dài xảy ra tại các khu vực trồng điều chủ yếu của nước ta như vùng Đông Nam bộ và Tây nguyên, nên sản lượng hạt điều thô thu hoạch đã giảm trên 50.000 tấn so với dự kiến ban đầu, xuống còn khoảng 350.000 tấn. Đáng chú ý là, do diện tích điều cao sản chiếm tỷ trọng thấp (khoảng trên 35%) và các vùng nguyên liệu tập trung chưa phát triển tương ứng với năng lực chế biến tại chỗ, càng làm cho việc thu gom nguyên liệu khó khăn và tăng chi phí.
Giá nhân điều xuất khẩu tăng cao đã khuyến khích các doanh nghiệp chế biến "mạnh tay" ký kết các hợp đồng xuất khẩu với khối lượng lớn, càng làm tăng nhu cầu hạt điều nguyên liệu; trong khi đó, nguồn cung hạt điều nguyên liệu trong nước giảm do mất mùa, đã dẫn đến tình trạng tranh mua khá gay gắt giữa các cơ sở chế biến, đẩy giá hạt điều thô tăng mạnh liên tục trong những tháng qua và đạt mức hiện nay trên dưới 15.000 đ/kg (giá mua của nông dân), tính ra giá 1 kg điều thô về đến kho các cơ sở chế biến đạt khoảng 18.000 – 19.000 đồng. Đây là mức giá kỷ lục kể từ năm 1999 đến nay.
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 4/8/2005
****************************

Tham khảo giá gạo tại thị trường Châu Âu ngày 03/08/2005
Đơn vị tính: USD/tấn, C+F Rotterdam
Gạo Thái Lan Giá
Gạo tấm cao cấp loại 1(giao rời) 267
Gạo Loonzain 100% loại B (giao rời) 333
Gạo đồ Loonzain 100% sortex 340
Gạo trắng 100% loại B 375
Gạo tấm thơm A1 extra super 340
Gạo thơm Loozain 450
Gạo Mỹ, USD/100lb Giá
Gạo lức thường 2/4/75 13,35
Gạo lức đồ 1/4/88 13,95
Gạo Italy, euro/tấn,FCAVercelli Area, giao rời Giá
Gạo Indica 5% 320
Gạo hạt tròn 5% 320
Gạo Indica Pb 5% Sortex 400
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 4/8/2005
**************************
Tham khảo giá gạo tại một số thị trường Châu Á ngày 03/08/2005
Đơn vị tính: USD/tấn, FOB
Gạo Thái Lan Giá Gạo Việt Nam Giá
Gạo trắng 100% loại B 287 Gạo trắng 5%DP 254
5% 281 5% 253
10% 278 10% 251
15% 268 15% 243
25% 253 25% 234
35% 251 Gạo Ân độ
Gạo thơm 401 Gạo Basmati 850
Gạo PB 100% Sortexed 288 Gạo PR 106 PB 5% 280
Gạo tấm A1 Super 214 Gạo PR 106 25% 230
Gạo Pakistan Gạo 1001 25% 237
Gạo trắng 15% 252
20% 245
25% 243
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 4/8/2005
******************************
Tham khảo giá hạt tiêu nhập khẩu của châu Âu ngày 03/08/2005
Đơn vị tính: USD/tấn, CIF Rotterdam/Hamburg
Loại hạt tiêu Kỳ hạn giao Giá hôm nay
Sarawak White FAQ Giao ngay 2450
Sarawak White SHP 08-09/05 2400
Muntok White FAQ Giao ngay 2450
Muntok White SHP 08-09/05 2350
Sarawak Black SPEC Giao ngay 1550
Sarawak Black SHP 08-09/05 1500
Brazil Black GRD1 Giao ngay 1550
Brazil Black SHP 08-09/05 1450
India Black SHP 08-09/05 1650
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 4/8/2005
***************************
Tham khảo giá đường hợp đồng số 11 tại Sở giao dịch New York (CSCE) ngày 03/08/2005
Đơn vị tính: UScent/lb(1lb = 0,454 kg)


Giao kỳ hạn Giá mở cửa Giá cao Giá thấp Giá đóng cửa Mức tăng giảm so hôm trước
10/05 10,14 10,24 10,11 10,2 0,11
3/06 10,08 10,22 10,08 10,2 0,16
5/06 9,8 9,97 9,8 9,94 0,19
7/06 9,57 9,7 9,57 9,67 0,15
10/06 9,44 9,55 9,44 9,53 0,14
3/07 9,29 9,37 9,29 9,37 0,1
5/07 9,18 9,28 9,23 9,25 0,08
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 4/8/2005
**************************
Tham khảo giá cà phê xuất khẩu của Brazil ngày 03/08/2005

Đơn vị tính: Euro/tấn, FOB Santos.
Loại hợp đồng Kỳ hạn giao Giá giao Mức thay đổi
BR Ara S4 xSan 08/05 1738,9 +148,4
BR Ara S4 e1San 09/05 1750,5 +148,5
BR Ara S4 e2San 10/05 1762,2 +150,4
BR Ara S4 e3San 9-10/05 1779,7 +153,4
BR Ara S4 e4San 11/05-1/06 1871,1 +140,3
BR Ara S4 e5San 2-7/06 1903,5 +73,8
BR Ara S6 Fine Giao ngay 1727,2 +151
BR Ara S6 Boa Giao ngay 1610,6 +163,9
BR Ara S6 Riados Giao ngay 1260,9 +116,3
BR Ara S6 Bebida Giao ngay 1144,3 +100,4
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 4/8/2005
*********************************
Tham khảo giá cà phê giao ngay của một số nước châu Á ngày 03/08/2005
Loại hợp đồng Đơn vị tính Điều kiện giao hàng Giá giao Mức thay đổi so hôm trước
ID Gr4 80dfcts $ USD/tấn FOB Lampun 1015 +50
ID Gr4 80dfcts IDR/kg FOB Lampun 9450 +150
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 4/8/2005
***************************
Tham khảo giá cà phê Arabica tại Sở giao dịch New York (CSCE) ngày 03/08/2005
Đơn vị tính: UScent/lb(1lb = 0,454 kg)
Giao kỳ hạn Giá mở cửa Giá cao Giá thấp Giá đóng cửa Mức tăng giảm so hôm trước
9/05 106,1 107,3 105,7 105,75 -0,85
12/05 111 111,6 110,2 110,3 -0,8
3/06 115,25 115,4 114,6 114,2 -0,8
5/06 117 117 116,8 116,2 -0,8
7/06 119 119 118,75 118,2 -0,8
9/06 121 121,5 120,8 120,2 -0,8
12/06 124 124 123,75 123,45 -0,8
3/07 127 128 128 126,7 -0,8
5/07 0 0 0 127,95 -0,4

Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 4/8/2005
******************************
Tham khảo giá bông giao kỳ hạn tại thị trường New York ngày 02/08/2005
Đơn vị tính: Uscent/lb.
Giao kỳ hạn Giá mở cửa Giá cao Giá thấp Giá đóng cửa Mức tăng giảm so hôm trước
7/05 49,8 51,4 49,8 50,95 0,25
10/05 51,1 53,3 51,1 52,51 0,19
12/05 53,4 55,25 53,4 54,7 0,33
3/06 54,7 56,25 54,7 55,5 0,25
5/06 55,5 56,6 55,8 56,55 0,25
7/06 56,25 0 0 57,6 0,25
10/06 57,25 0 0 58,6 0,25
12/06 59,25 0 0 60,6 0,25
3/07 59,25 0 0 60,6 0,25
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 4/8/2005
******************************
Tham khảo giá thịt bò Anh trên thị trường nội địa ngày 02/08/2005
ĐV tính: Bảng Anh/kg
Sản phẩm Giá thấp Giá cao
UK BEEF Scot P1 2,596 2,70
UK BEEF ScotHind 3,53 3,63
UK BEEF ScotFore 1,60 1,60
UK BEEF Hind P1 2,596 3,00
UK BEEF Hind P1 1,32 1,54
UK BEEF Top P1 1,76 2,20
UK BEEF Loin P1 4,40 5,75
UK BEEF Ribs P1 3,08 3,75
UK BEEF Pony P1 1,43 1,65
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 4/8/2005
*********************************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia