Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2005 » Số 30 » Phát triển cơ sở hạ tầng » THANH HOÁ VỚI CHƯƠNG TRÌNH XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ VIỆC LÀM

THANH HOÁ VỚI CHƯƠNG TRÌNH XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ VIỆC LÀM

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 30/Phát triển cơ sở hạ tầng
Đề mục : 68.01 Các vấn đề chung
Từ khoá : Xoá đói giảm nghèo Tạo việc làm
Nội dung:
Thanh Hoá là tỉnh đông dân, năm 2004 ước tính dân số trên 3,7 triệu người, hơn 2 triệu người trong độ tuổi lao động. Tỉnh có 24 huyện miền núi, 3 thị xã, 1 thành phố; 636 xã, phường, thị trấn (trong đó có 11 huyện miền núi, 220 xã với trên 1,2 triệu người thuộc nhiều dân tộc đang sinh sống). Về kinh tế, sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp là chủ yếu, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ đang được quan tâm đầu tư có bước phát triển rõ rệt. Đời sống nhân dân nhìn chung được ổn định, từng bước được cải thiện, nâng cao.
Quán triệt quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước, tăng trưởng kinh tế gắn liền với thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội. Cùng với sự phát triển kinh tế, từng bước giải quyết các vấn đề xã hội vừa cơ bản lâu dài, vừa cấp bách trước mắt, nhất là vấn đề việc làm, xoá đói giảm nghèo. Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã tham mưu cho Tỉnh uỷ - HĐND – UBND xây dựng chương trình xoá đói giảm nghèo - việc làm giai đoạn 2001-2005; Đề án phát triển công tác đào tạo nghề giai đoạn 2001-2010. Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ra Nghị quyết về xuất khẩu lao động giai đoạn 2003-2005 và định hướng đến năm 2010; đồng thời ban hành Chỉ thị về cải thiện nhà ở cho hộ nghèo chưa chưa có nhà ở và đang ở nhà xiêu vẹo dột nát trên địa bàn tỉnh đến năm 2007. Từ đó đã đề ra nhiều chủ trương, giải pháp để xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm; các cấp uỷ đảng, chính quyền cùng các tổ chức đoàn thể đã tập trung triển khai thực hiện các chương trình quốc gia về giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, đào tạo nghề và giới thiệu việc làm cho một số lớn lao động trong những năm gần đây, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, từng bước ổn định đời sống nhân dân.
Năm 2004, tổng nguồn vốn đầu tư cho xoá đói giảm nghèo là 753 tỷ đồng, trong đó 253 tỷ đồng đầu tư cho các xã nghèo, vùng nghèo để xây dựng kết cấu hạ tầng như: đường, trường học, trạm y tế xã, các công trình thuỷ lợi nhỏ và công trình cấp nước sạch sinh hoạt phục vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân; 500 tỷ đồng đầu tư thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội để cho khoảng 145 ngàn lượt hộ nghèo vay vốn phát triển sản xuất, tạo việc làm cho trên 6.000 lao động. Chương trình xoá nhà xiêu vẹo dột nát đã huy động được nguồn kinh phí từ Trung ương nguồn vận động quỹ “Ngày vì người nghèo” nguồn vận động của các tổ chức cá nhân, của dòng họ và chính bản thân hộ nghèo. Toàn tỉnh đã hỗ trợ cho gần 10.000 hộ nghèo cải thiện nhà ở, trong đó làm mới trên 7.000 nhà với số tiền trên 66 tỷ đồng. Điển hình như huyện Đông Sơn, thị xã Sầm Sơn sau hơn một năm triển khai đã hoàn thành việc xoá nhà tranh tre tạm bợ, dột nát cho hộ nghèo. Một số đơn vị có cách làm sáng tạo, phát huy được trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở, khơi dậy nguồn lực trong nhân dân nên đạt kết quả cao như các huyện Yên Định, Thạch Thành, Ngọc Lặc, Cẩm Thuỷ, Nga Sơn...
Bên cạnh đó, Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo còn có sự tham gia nỗ lực của các cấp, các ngành, cấp uỷ đảng, chính quyền cơ sở, đặc biệt là các đoàn thể chính trị xã hội như: Hội phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên, Mặt trận Tổ quốc. Năm 2004, toàn tỉnh cũng đã hỗ trợ đời sống cho đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn, cứu tế cho nhân dân vùng bị thiên tai, hạn hán, mất mùa, thiếu đói kỷ giáp hạt, trợ giá, trợ cước cho đồng bào ở các xã đặc biệt khó khăn các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho sinh hoạt và đời sống với số kinh phí 4 tỷ đồng; hướng dẫn cách làm ăn cho 90.000 lượt hộ nghèo với số tiền 5 tỷ đồng; tập huấn nâng cao năng lực cho 1.654 cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo từ huyện đến xã, phường, thôn, bản với số kinh phí 500 triệu đồng; mua trên 716 ngàn thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo vào có 250.000 lượt người nghèo được khám chữa bệnh miễn phí với số tiền 30 tỷ đồng. Từ những giải pháp đồng bộ được triển khai mạnh mẽ và có hiệu quả, số hộ nghèo của tỉnh đã giảm được gần 25 ngàn hộ.
Để nâng cao mức sống của nhân dân và đẩy nhanh sự nghiệp xoá đói giảm nghèo, nhiệm vụ quan trọng là phải giải quyết được việc làm. Năm 2004, tỉnh đã giải quyết việc làm mới cho 38.500 lao động. Trong tổng số 58 tỷ đồng từ Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm, năm 2004 được Trung ương bổ sung 4 tỷ đồng cùng với 22 tỷ vốn thu hồi của các dự án đến hạn, đã thực hiện cho vay 573 dự án để phát triển sản xuất, tạo việc làm mới cho 9.500 lao động, ổn định việc làm hiện có và tăng thêm thời gian làm việc cho gần 20.000 người.
Tuy thành tựu về giải quyết việc làm và xoá đói giảm nghèo ở Thanh Hoá trong thời gian qua là đáng khích lệ, song cũng còn gặp không ít khó khăn. Cuối năm 2004, toàn tỉnh còn 94.300 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 11,91% so với tổng số hộ toàn tỉnh, có khoảng 41 ngàn hộ nghèo đang ở nhà tranh tre xiêu vẹo dột nát, trong số 11 huyện miền núi thì có 8 huyện nghèo, 102 xã đặc biệt khó khăn; 139 xã nghèo đặc biệt khó khăn nằm ngoài chương trình 136/CP của Chính phủ, trong đó nhiều xã nông thôn ở vùng sâu, vùng xa trung tâm huyện, điêu kiện kinh tế rất khó khăn; 33 xã bãi ngang ven biển, 8 xã vùng cửa lạch điều kiện kinh tế - xã hội cũng không kém phần khó khăn. Cơ sở hạ tầng thiết yếu như trường học, trạm y tế xã, giao thông, thủy lợi, nước sạch sinh hoạt ở các xã nghèo của tỉnh còn yếu kém đã hạn chế sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Năm 2005 là năm cuối cùng của kế hoạch 5 năm (2001-2004), mục tiêu của chương trình là xoá đói giảm nghèo - việc làm Thanh Hoá là: Giảm tỷ lệ đói nghèo của tỉnh xuống dưới 10%, xoá 10.000 nhà tranh tre dột nát cho hộ nghèo; giải quyết việc làm cho 39.000 lao động, trong đó xuất khẩu lao động 5.500 người, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 27%.
Nguồn: Tạp chí Lao động và Xã hội, Số 255/2005; tr23-24.
*************************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia