Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2005 » Số 30 » Đường lối - Chính sách » NHỮNG THÁCH THỨC TRONG GIẢM NGHÈO GIAI ĐOẠN 2006 -2010

NHỮNG THÁCH THỨC TRONG GIẢM NGHÈO GIAI ĐOẠN 2006 -2010

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 30/Đường lối - Chính sách
Đề mục : 68.01 Các vấn đề chung
Từ khoá : Xoá đói giảm nghèo Thách thức
Nội dung:

Hơn 4 năm qua, cùng với nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo đã đạt kết quả rất quan trọng: ngay trong năm 2001, cả nước đã giảm khoảng 450.000 hộ nghèo. Cuối năm 2003, tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc đã giảm xuống dưới 10%, báo hiệu sự “về đích” sớm hơn 2 năm so với mục tiêu giảm hộ nghèo đến cuối năm 2005 của Chính phủ. Năm 2004, giảm trên 300.000 hộ nghèo, hạ tỷ lệ hộ nghèo xuống 8%. Theo ước tính, năm 2005 số hộ nghèo cả nước sẽ giảm ít nhất là 200.000 hộ và tỷ lệ hộ nghèo sẽ giảm xuống mức 6-7%.
Mặc dù đã có thể khẳng định hoàn thành xuất sắc mục tiêu giảm nghèo giai đoạn 2001-2005 nhưng thực tế cũng đã bộc lộ một số khó khăn và những khó khăn này sẽ trở thành thách thức đối với chương trình, đòi hỏi chúng ta phải có những giải pháp cụ thể trong giai đoạn tiếp theo, đó là:
Thứ nhất, khó có thể kiểm soát được tình trạng tái nghèo: Hơn 4 năm trở lại đây, trung bình mỗi năm có khoảng 40.000-50.000 hộ tái nghèo, bằng 10-15% thành quả giảm hộ nghèo của cả nước. Tái nghèo là hậu quả của nhiều nguyên nhân, nhưng hơn 70% là hậu quả của thiên tai, đặc biệt là do bão lũ ở khu vực miền Trung chiếm gần 80% tổng số hộ tái nghèo do thiên tai của cả nước. Thiên tai đang có xu hướng ngày càng đa dạng và phức tạp hơn. Ví dụ: xuất hiện dịch cúm gà trên phạm vi rất rộng, hạn hán kéo dài cả ở những khu vực trước đây rất ít khi bị thiếu nước sản xuất, mưa đá nhiều nơi, xâm mặn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long...
Số liệu tổng hợp cho thấy, thiên tai năm 2002 đã làm cho gần 900.000 người phải cứu trợ lương thực. Con số này năm 2003 là gần 1 triệu người và năm 2004 là hơn 260.000 hộ với khoảng 960.000 người Năm 2005 và những năm tiếp theo, tình trạng tái nghèo do thiên tai vẫn khó có thể kiểm soát do tình trạng thiếu nước đang diễn ra trên diện rộng, hậu quả của dịch cúm gia cầm có thể còn kéo dài, và theo dự báo tình hình mưa lũ sẽ diễn ra rất phức tạp.
Thứ hai, vấn đề xoá đói giảm nghèo đối với một số nhóm dân tộc sẽ gặp nhiều khó khăn.
Thời gian qua, tỷ lệ hộ nghèo của hầu hết các nhóm dân tộc thiểu số đã giảm, tốc độ giảm tỷ lệ hộ nghèo của một số nhóm khá nhanh nhưng nhìn chung tỷ lệ hộ nghèo vẫn ở mức cao, thậm chí là rất cao. Tỷ lệ hộ nghèo của nhóm dân tộc Vân Kiều, PaKô ở khu vực miền Trung vẫn là hơn 60%; dân tộc Mông ở khu vực miền núi phía Bắc là gần 40%; Bana, Jơrai ở khu vực Tây Nguyên là 35%... Trong khi tỷ lệ hộ nghèo chung cả nước là 7%. Tỷ trọng hộ nhgèo thuộc nhóm dân tộc thiểu số trong tổng số hộ nghèo cả nước có xu hướng tăng lên. Điều này là hệ quả của tình trạng tốc độ giảm nghèo của nhóm dân tộc thiểu số thấp hơn so với nhóm dân tộc Kinh, Hoa.
Trong giai đoạn tiếp theo, nếu áp dụng chuẩn nghèo mới như dự kiến (200.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 260.000 đồng ở khu vực thành thị) thì tỷ lệ hộ nghèo của nhiều nhóm dân tộc sẽ rất cao, thậm chí có nhóm lên tới 100%, bởi thu thập bình quân thực tế của nhóm dân cư này hiện chỉ dao động từ 100.000 đến 250.000 đồng/người/tháng.
Thứ ba, năng lực sản xuất và khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản cũng như cơ hội phát triển của dân cư sống ở một số vùng địa lý đặc thù hiện nay rất thấp, đó là:
Nhóm dân cư sống ở khu vực bãi ngang: Các vùng bãi ngang ở nước ta tập trung chủ yếu ở khu vực miền Trung. Đặc trưng cơ bản của bãi ngang là cát chiếm phần lớn diện tích tự nhiên và thường xuyên thiếu nước, cả nước sản xuất và sinh hoạt. Các loại cây lương thực hầu như không thể phát triển được vì khô hạn. Nguồn sống chính của người dân là đánh bắt hải sản, trong đó phần lớn đánh bắt gần bờ, sản lượng đánh bắt rất bấp bênh và đang trong tình trạng ngày càng giảm. Mặt khác, ngư dân cũng chỉ có thể đánh bắt liên tục trong khoảng thời gian từ 6-8 tháng mỗi năm. Theo số liệu tổng hợp, khoảng 700.000-800.000 người đang sống ở các vùng bãi ngang và hầu như đều rất khó khăn trong việc tìm một nguồn thu nhập ổn định và bền vững.
Nhóm dân cư sống ở vùng núi cao: Theo ước tính, hiện nay khoảng 2 triệu người đang sống phân tán ở những khu vực có điều kiện đi lại rất khó khăn do địa hình phức tạp, tập trung ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và miền Trung. Phần lớn nhóm dân cư này vẫn sống theo phương thức tự cấp tự túc, đời sống kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào tự nhiên. Do cư trú phân tán và ở những vùng giao thông chia cắt việc tạo các điều kiện để họ tiếp cận các dịch vụ xã hội, cũng như cơ hội phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo gặp rất nhiều khó khăn.
Thứ tư, tình trạng thu nhập ở khu vực sản xuất nông nghiệp thấp và tăng chậm trong khi người nghèo lại tập trung chủ yếu ở khu vực này.
Trong mấy năm qua, tình trạng sản xuất nông nghiệp không có lãi đã xảy ra ở nhiều tỉnh, đặc biệt là ở những nơi sản xuất độc canh cây lúa, đất xấu, thiếu nước... Thực tế cho thấy, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, hay cơ cấu kinh tế ở nhiều nơi đang gặp rất nhiều khó khăn. Do đó, để tăng được thu nhập, giảm được nghèo, đảm bảo mức thu nhập bình quân mỗi tháng trên 200.000 đồng/người cho hơn 90% người nghèo gồm khoảng gần 20 triệu người, tương đương 4 triệu hộ gia đình hiện đang sống trong khu vực sản xuất nông nghiệp sẽ là một thách thức cực kỳ lớn đối với chương trình.
Thứ năm, nhu cầu về nguồn lực xoá đói giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 sẽ rất lớn. Nếu áp dụng chuẩn nghèo mới như dự kiến, năm 2006 cả nước sẽ có 4,6 triệu hộ nghèo, chiếm 26-27% tổng số hộ gia đình cả nước. Tình trạng nghèo ở nhiều nơi sẽ trở nên trầm trọng. Tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực Tây Bắc sẽ lên tới 60-70%, Tây Nguyên hơn 50%, Bắc Trung Bộ 40%. Một số tỉnh sẽ có tỷ lệ hộ nghèo khoảng 70-80%. Như vậy, nhu cầu về nguồn lực để thực hiện mục tiêu giảm nghèo cũng sẽ là một trong những thách thức rất lớn, đặc biệt đối với các tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao. Theo báo cáo, riêng nguồn ngân sách chi cho chương trình năm 2006 ước tính đã tăng thêm so với năm 2005 là 1.020 tỷ đồng.

Nguồn: Theo tạp chí Lao động và Xã hội, Số 262/2005; tr.13-14.
****************************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia