Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2005 » Số 28 » I. Đường lối, chính sách » Nghề cá Việt Nam hướng tới sự phát triển bền vững

Nghề cá Việt Nam hướng tới sự phát triển bền vững

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 28/I. Đường lối, chính sách
Đề mục : 69 Thuỷ sản
Từ khoá : Nghề cá Phát triển bền vững
Nội dung:
Việt Nam là một quốc gia biển với diện tích biển rộng gấp 3 lần đất liền, trung bình cứ 100 km2 đất liền lại có 1 km đường bờ biển. Diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam rộng khoảng 1 triệu km2 với trên 3.000 đảo lớn nhỏ. Trên 10.000 loài sinh vật biển cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái khác nhau đã tạo ra nguồn lợi biển rất đa dạng và phong phú, là cơ sở cho ngư dân Việt Nam tiến ra biển.
Tiềm năng là như vậy nhưng trên thực tế, nghề cá Việt Nam vẫn ở quy mô nhỏ lẻ. Năng lực khai thác hải sản phát triển còn tự phát và theo phong trào. Đội tàu khai thác tăng nhanh từng năm, bình quân tăng 6%/năm, công suất máy tàu tăng bình quân 15%/năm. Đánh giá chung thì nghề cá nước ta còn lạc hậu, khai thác theo kiểu thủ công truyền thống, mức độ cơ giới hóa thấp và chủ yếu tập trung khai thác hải sản ven bờ, từ độ sâu 30 - 50 m nước trở vào. Chính vì vậy mà nguồn lợi hải sản ven bờ đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt, nhiều tổn thất về đa dạng sinh học vùng bờ đã xảy ra. Đã có 85 loài hải sản có mức độ nguy cấp khác nhau, 70 loài đã phải đưa vào sách Đỏ Việt Nam. Các loại tài nguyên khác như san hô, rừng ngập mặn cũng đang bị đe dọa.
Cũng có nhiều nét tương đồng nhưng nghề cá ở Nhật Bản, Malayxia hay một số nước Đông Nam Á khác lại có sự phát triển mạnh hơn nhiều so với Việt Nam. Ngư dân những nước này thường đi trên những con tàu khai thác chuyên dụng có thể quanh năm ở trên biển. Thiết bị công nghệ hiện đại, đội ngũ thuyền trưởng thuyền viên dày dạn kinh nghiệm đã giúp họ tăng sản lượng khai thác đáng kể theo từng năm nhưng vẫy duy trì được nguồn lợi. Nhắc đến Nhật Bản, chúng ta biết rằng đây là một cường quốc về khai thác, trong đó có con cá ngừ. Nhắc đến Thái Lan, chúng ta biết đây là một quốc gia có diện tích nuôi biển khá lớn. Philippin và Inđônêxia cũng đang có những chuyển hướng tích cực đưa ngư dân hướng ra đại dương. Ông Akira Nakamae - Phó cục trưởng Cục Khai thác nghề cá Nhật Bản nhận xét: “Tôi nghĩ rằng nghề cá ở Việt Nam mới trong giai đoạn đang phát triển, trong khi đó nghề cá ở Nhật Bản đã có những bước tiến vượt bậc, cả về lĩnh vực khai thác, sử dụng khoa học công nghệ trong khai thác gắn liền với việc bảo vệ tài nguyên biển. Tuy nhiên, tôi tin tưởng sẽ có sự hợp tác chặt chẽ giữa Nhật Bản và các nước ASEAN. Chúng tôi coi đây là bước đi quan trọng để đảm bảo nghề cá các nước trong khu vực và Nhật Bản luôn đi đúng hướng”.
Trong cuộc họp Hội đồng Trung tâm phát triển nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC) diễn ra tại Hà Nội, Việt Nam với tư cách là nước chủ nhà đã tiến hành thảo luận với đại diện ngành thủy sản của 10 nước là Brunei, Campuchia, Thái Lan, Inđônêxia, Philippin, Lào, Nhật Bản, Myanmar, Singapo và Malayxia về các lĩnh vực hợp tác nghề cá. Tập trung vào một số vấn đề như: đảm bảo tất cả các nước thành viên ASEAN được hưởng nhiều lợi ích từ nghề cá, xúc tiến việc thực hiện Luật hướng dẫn nghề cá có trách nhiệm cho các nước thành viên, đảm bảo tính bền vững của ngành, duy trì nguồn lợi…
Hiện nay, để bắt kịp với tốc độ phát triển nghề cá các nước trong khu vực và trên thế giới, ngành thủy sản Việt Nam đã tiến hành ứng dụng nhiều kỹ thuật mới vào khai thác như đề tài nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật khai thác tôm trên tàu 23 đến 200 CV, đề tài nghiên cứu khai thác mực nang bằng lưới rê 3 lớp, đề tài nghiên cứu khai thác mực đại dương và mực ống bằng lưới chụp mực ở vùng biển xa bờ… Bước đầu của đề tài này đã phát huy tác dụng, tăng sản lượng khai thác, tập trung vào một số đối tượng có giá trị kinh tế cao như mực đại dương, cá ngừ đại dương. Tuy nhiên để nghề cá Việt Nam phát triển bền vững, nhất thiết chúng ta phải học hỏi kinh nghiệm từ những cường quốc khai thác đại dương, đồng thời hình thành các tổ chức hợp tác, tổ tự quản, áp dụng những mô hình quản lý cộng đồng trong khai thác trên biển.
Nguồn: Báo Khánh Hòa, ngày 25/5/2005.
**********************************

 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia