Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

Giá cả thị trường

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 27/Bảo quản - Chế biến - Tiêu thụ
Đề mục : 06.61 Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ. Kinh tế theo vùng
Từ khoá : Giá cả thị trường
Nội dung:
Thị trường hàng hoá trong nước ngày 28/6/2005

Nghêu thịt tăng giá kỷ lục
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep) vài ngày nay, giá nghêu thịt ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, đặc biệt tại huyện Bình Đại, Ba Tri tỉnh Bến Tre (tỉnh có mỏ nghêu lớn nhất nước) đang ở mức 11.000 đến 12.000 đồng/kg, tăng 1.000 đến 2.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước, đạt mức cao nhất từ trước đến nay, tăng gấp đôi so với đầu năm và gấp khoảng 3 lần cùng kỳ năm ngoái.
Nguyên nhân chính là do sản lượng nghêu đến tuổi thu hoạch không còn nhiều bởi vì dịch bệnh cách đây gần 2 tháng làm sản lượng nghêu sụt mạnh trong khi nghêu thành phẩm xuất khẩu sang EU, Nhật, Hồng Kông, Đài Loan... tiếp tục tăng do con nghêu được EU và nhiều nước công nhận là sản phẩm sạch, đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm. Nhờ nghêu được giá, năm nay, nhiều công ty chế biến đã thu lời cao, góp phần giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn lao động.
Giá tôm hùm ổn định
Tuần qua, giá tôm hùm tại Phú Yên, Khánh Hòa vẫn ổn định ở mức cao, khoảng 430.000 đồng/kg đối với tôm cỡ từ 0,7 đến 2 kg/con.
Tuy nhiên, so với 2 tuần trước đây, giá tôm đã sụt giảm tới 30.000 đồng/kg và so với cùng kỳ năm trước, giá tôm cỡ 1 - 2 kg/con cũng đã thấp hơn 3,4%, trong khi giá tôm cỡ 0,7 đến 1 kg vẫn cao hơn 6,2%.
Giới kinh doanh thủy, hải sản dự báo rằng trong thời gian tới, giá tôm hùm sẽ ổn định ở mức hiện nay.
Vĩnh Long: giá cá nguyên liệu sụt giảm
Giá cá nguyên liệu đang sụt giảm mạnh ở Vĩnh Long. Hiện giá cá tra nguyên liệu chỉ còn từ 10.200 đồng- 10.500 đồng/kg; cá điêu hồng nuôi bè chỉ còn 17.000 đồng- 18.000 đồng/kg, cá điêu hồng nuôi ao 13.500 - 14.000 đồng/kg; cá rô phi dòng Gift nuôi bè chỉ còn 14.000 đồng/kg.
So với đầu năm, mỗi loại cá đều giảm khoảng 2000 đồng/kg trở lên. Theo giới kinh doanh, giá cá giảm là do các nhà máy chế biến gặp nhiều khó khăn trong xuất khẩu thủy, hải sản, lượng tồn kho nhiều. Trong tháng 6, Vĩnh Long chỉ xuất khẩu được 165 tấn thủy, hải sản và 6 tháng đầu năm toàn tỉnh xuất khẩu được 1258 tấn thủy sản chỉ bằng 81,76% so với cùng kỳ năm trước.
Giá cá nguyên liệu sụt giảm khiến nhiều hộ nuôi cá ở Vĩnh Long gặp nhiều khó khăn. Hiện toàn tỉnh đã có 37 cơ sở tạm ngưng nuôi thả thủy sản các loại (chủ yếu là cá tra) để chờ giá lên cho khỏi bị thua lỗ.
Ninh Thuận: Muối tăng cả lượng lẫn giá
Tại Ninh Thuận, vụ muối năm nay tăng cả lượng lẫn giá. Hiện giá 1 tấn muối ở mức 210.000 đồng đến 220.000 đồng/tấn, tăng 50.000 đồng/tấn so cùng kỳ năm ngoái.
Trong 6 tháng qua, các doanh nghiệp và diêm dân trên địa bàn tỉnh đã sản xuất được hơn 149.014 tấn muối các loại, đạt 78,4% kế hoạch/năm, tăng 48,8% so cùng kỳ năm ngoái, trong đó có 130.314 tấn muối công nghiệp và 18.700 tấn muối thực phẩm.
Lượng muối tiêu thụ trong 6 tháng là 96.608 tấn tăng 60,3 tấn so cùng kỳ, trong đó, Công ty muối Ninh Thuận tiêu thụ 39.108 tấn, Liên doanh muối Đầm Vua tiêu thụ 40.000 tấn và diêm dân tiêu thụ 17.500 tấn.
Lào Cai: Giá lương thực giảm nhẹ
Tại Lào Cai, giá nhiều mặt hàng lương thực đều có xu hướng giảm nhẹ. Tại thành phố Lào Cai, giá gạo tẻ thường ở mức 4.400 đồng/kg. Tại huyện Si Ma Cai, Bắc Hà, Bảo Thắng gạo tẻ thường 5.500 đồng/kg, giảm 100 đồng so với tuần trước.
Thực phẩm ở các huyện và thành phố sau một thời gian giảm nhẹ đã có có xu hướng chững lại. Giá 1kg thịt lợn hơi ở mức 12.000 đồng/kg, thịt lợn mông 26.000 đồng/kg, thịt vịt 23.000 đồng/kg, cá chép 27.000 đồng/kg, thịt gà ta 30.000 đồng/kg, thịt gà công nghiệp 19.000 đồng/kg, giảm từ 500 - 2.500 đồng/kg so với tuần trước. Riêng khu du lịch Sa Pa, thịt lợn hơi vẫn giữ giá 16.000 đồng/kg.
Mận Tam Hoa đang vào chính vụ nhưng giá vẫn ổn định so với tuần trước và cao hơn cùng năm ngoái 500 – 700 đồng/kg. Giá mận Tam Hoa bán phổ biến ở mức 1.000 - 2.000 đồng/kg nhưng loại quả to và ngon giá lên tới 6.000 - 7.000 đồng/kg.
Nguån: Th«ng tÊn x· ViÖt Nam ra ngµy 29 th¸ng 6 n¨m 2005.
******************
ThÞ tr­êng h¹t tiªu toµn cÇu vµ xu h­íng biÕn ®éng gi¸

Thị trường thế giới:
Theo dự đoán của ủy ban Hạt tiêu Quốc tế (IPC), sản lượng hạt tiêu toàn cầu năm 2004 ước sẽ tăng nhẹ lên 326.000 tấn, trong đó sản lượng của Việt Nam khoảng 85.000 tấn. Tuy nhiên, sản lượng của các nước sản xuất và xuất khẩu chính thuộc IPC ước giảm so với năm 2003, nhưng do sản lượng của các nước ngoài IPC (Việt Nam, Campuchia) vẫn duy trì ở mức như năm 2003,… nên tổng sản lượng hạt tiêu toàn cầu có thể đạt 326.000 tấn. Với lượng tồn kho chuyển sang 60.000 tấn, thì tổng cung hạt tiêu năm nay khoảng 380.000 tấn.
Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ hạt tiêu toàn cầu chỉ khoảng trên 200 ngàn tấn. Cung vượt cầu, giá hạt tiêu xuất khẩu nhìn chung vẫn tiếp tục đứng ở mức thấp từ cuối năm 2003 đến tháng 2/04. Tuy nhiên, sang tháng 3/04 giá hạt tiêu trên thị trường thế giới đã có dấu hiệu tăng cao sau khi có thông báo vụ thu hoạch ở Việt Nam bị trì hoãn, dẫn tới chậm trễ trong các chuyến giao hàng. Bên cạnh đó, lượng hạt tiêu dự trữ của Việt Nam từ vụ trước hầu như được xuất hết sang Trung Quốc và Campuchia trong dịp Tết Nguyên đán. Đây cũng là nguyên nhân khiến nguồn cung cho tiêu dùng bị thắt chặt, chưa đầy 5 tấn một ngày. Vào thời điểm này, chỉ có khoảng 10-15 tấn được giao trực tiếp từ thị trường sơ cấp.
Trên thị trường quốc tế cuối ngày 4/3/04, giá hạt tiêu Asta của Braxin được chào bán ở mức 1415-1450 USD/tấn, trong khi hạt tiêu cùng loại của Indonesia là 1400 và của Việt Nam là 1345 USD/tấn. Giá hạt tiêu giao ngay trên thị trường ấn Độ là 7000 rupi/quintal (37,32 kg), loại chưa chọn là 6700 rupi/quintal, tăng so với mức tương ứng 6900 và 6600 rupi/quintal ngày 28/2/04. Nhìn chung, thị trường hạt tiêu năm 2004 sẽ phụ thuộc nhiều vào tình hình phát triển sản lượng trong năm.
Trong ngắn hạn, thị trường sẽ chịu ảnh hưởng chính từ sản lượng hạt tiêu của Việt Nam, ấn Độ và tồn kho chuyển sang từ năm 2003. Cũng theo dự đoán của IPC, sản lượng hạt tiêu của ấn Độ năm nay có thể sẽ giảm xuống, trong khi sản lượng của Việt Nam không thay đổi mấy so với năm trước. Sản lượng hạt tiêu của các nước sản xuất chính khác, trừ Braxin và Trung Quốc cũng được IPC dự đoán giảm trong năm nay. Trong 2 tháng tới, thị trường hạt tiêu thế giới dự đoán sẽ tiếp tục duy trì ở mức hiện tại hoặc tăng nhẹ do được nâng đỡ từ nguồn cung khan hiếm.
Tuy nhiên, trong dài hạn giá hạt tiêu có thể sẽ chịu sức ép từ tồn kho ở các nước tiêu thụ chính và khả năng tăng sản lượng ở các nước đang phát triển.
Thị trường trong nước:
Theo dự kiến của Hiệp hội hạt tiêu Việt Nam, tổng sản lượng hạt tiêu cả nước ước đạt khoảng 80.000 -90.000 tấn, trong đó sản lượng tiêu trắng đạt 8000-10.000 tấn do diện tích trồng tiêu tại Tây Nguyên có xu hướng gia tăng, tuy nhiên tốc độ tăng không cao. So với năm trước, diện tích trồng tiêu năm nay tăng thêm 3745 ha, đạt 52.535 ha. Với tổng sản lượng ước đạt ở trên, Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục là nước sản xuất hồ tiêu lớn nhất thế giới, và có đủ cơ sở để giữ vững được vị trí số 1 về xuất khẩu hồ tiêu (năm 2003, Việt Nam chiếm 39% lượng hạt tiêu xuất khẩu trên toàn thế giới).
Theo một chuyên gia Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, xuất khẩu hạt tiêu năm nay của Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn và phức tạp. Sự sụt giá hạt tiêu xuất khẩu trong thời gian qua (từ cuối năm 2003 đến đầu tháng 3/04), chỉ còn khoảng 1180 USD/tấn so với 1310 USD/tấn cùng kỳ năm trước) là do lượng cung có phần tăng lên. Tuy nhiên, mức giá xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn cao hơn so với các nước xuất khẩu chính khác như: Indonesia, Braxin. Mức giá cao này không phải do chất lượng hạt tiêu của ta cao mà vì lượng hạt tiêu xuất khẩu của ta đã chiếm tới 39% tổng lượng hạt tiêu xuất khẩu trên toàn thế giới. Hơn nữa, thời vụ thu hoạch tiêu của ta là khoảng tháng 1-5, trong khi Malaysia, Indonesia là tháng 4-5 và Braxin là tháng 7-11. Như vậy trong nửa đầu năm 2004, thị trường hạt tiêu chủ yếu của thế giới là Việt Nam.
Quý 1/04, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam ước đạt 13.000 tấn với kim ngạch gần 19,5 triệu USD. So với cùng kỳ năm 2003, xuất khẩu hạt tiêu đạt khoảng 93% về khối lượng và 97,5% về trị giá. Các thị trường xuất khẩu chính gồm: Mỹ, Singapore, Hà Lan, Đức, ảrập, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan, Pháp và Tây Ban Nha. Thị trường tiềm năng là Liên minh Châu Âu và Trung Đông.
Nguån: Theo Tin thÞ tr­êng ra ngµy 17 th¸ng 6 n¨m 2005
******************
Tham kho gi¸ g¹o t¹i miÒn Nam n­íc Mü ngµy 29/6/2005

Đơn vị tính: USD/100lb, FOB

Gạo thô hạt dài Giá Gạo hạt dài Giá
CIF NOLA 7,60 Fas Lake Charles 14,00
Arkansas 6,55 Arkansas 13,00
Louisiana 6,65 Louisiana 1300
Texas 7,10 Texas 13,00
Mississippi 7,70 Mississippi 13,00
Missouri - Missouri 13,00
Laredo 8,45 Gạo Brewers
Dlvd barge terml 6,90 Arkansas 11,00
Thóc hạt vừa Louisiana 11,00
Arkansas 6,75 Texas 11,00
Louisiana - Mississippi 11,00
CIF NOLA 7,85 Missouri 11,00
Dlvd barge terml 7,10
Gạo lức hạt dài Gạo đồ
CIF NOLA 13,50 CIF NOLA 15,00
CIF Rotterdam 14,50 FOB Mill 14,00
Tại California
Gạo thô Calrose Giá Gạo Calrose Giá
California 7,00 California 14,00
exspout SAC 8,50 exspout SAC 15,00

Nguån: Theo Agroviet ra ngµy 29 th¸ng 6 n¨m 2005
******************
Tham kho gi¸ cµ phª Arabica t¹i Së giao dÞch New York (CSCE) ngµy 28/06/2005
Đơn vị tính: UScent/lb(1lb = 0,454 kg)

Giao kỳ hạn Giá mở cửa Giá cao Giá thấp Giá đóng cửa
7/05 102 104 101,7 104,3
9/05 105,4 107,8 104,5 107,5
12/05 109,5 111,75 108,5 111,35
3/06 113 113,8 112,4 114,75
5/06 115,05 115,05 115,05 116,55
7/06 116,75 117,7 116,75 118,35
9/06 118,5 119,2 117,5 120,15
12/06 120,75 121,25 121 122,25
1/07 122,75 123,5 123,5 124,25

Nguån: Theo Agroviet ra ngµy 29 th¸ng 6 n¨m 2005
******************
Tham kho gi¸ ®­êng hîp ®ång sè 14 t¹i Së giao dÞch New York (CSCE) ngµy 28/6/2005
Đvt: UScent/lb
Giao kỳ hạn Giá mở cửa Giá cao Giá thấp Giá đóng cửa Mức tăng giảm so hôm trước
7/05 21,3 21,65 21,3 21,65 +0,35
9/05 20,69 20,7 20,68 20,68 0
11/05 20,7 20,71 20,7 20,67 -0,03
1/06 20,69 20,72 20,69 20,7 0
3/06 20,83 20,86 20,83 20,84 -0,02
5/06 21,1 21,12 21,08 21,12 +0,01
7/06 21 0 0 21,31 0
9/06 20,75 0 0 20,9 0

Nguån: Theo Agroviet ra ngµy 29 th¸ng 6 n¨m 2005
******************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia