Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2005 » Số 25 » PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG » Nâng cao chất lượng dạy và học qua việc "tự học, tự đào tạo" ở trường phổ thông vùng cao Việt Bắc

Nâng cao chất lượng dạy và học qua việc "tự học, tự đào tạo" ở trường phổ thông vùng cao Việt Bắc

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 25/PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG
Đề mục :
Từ khoá : Vùng cao
Nội dung:
Cách đây gần 10 năm giáo viên (GV) trường vùng cao Việt Bắc vẫn dạy học theo phương pháp truyền thống; GV thuyết trình hoặc phát vấn, áp đặt kiến thức có sẵn, yêu cầu HS phải nghe, ghi, học thuộc lòng một cách thụ động mà ít quan tâm đến việc các em có hiểu bài không, hiểu đến đâu. Cuối cùng khi kết quả học tập của HS yếu kém, không có khả năng học khá giỏi thì GV cho đó là do HS dân tộc thiểu số bản chất là đã yếu kém mà không hiểu rằng chính cách dạy của họ đã dẫn đến chất lượng học tập như vậy.
Nguyên nhân chính của tình trạng này là do GV đã "vừa dạy vừa học thay cho HS, không chú ý phát huy tính tự chủ, độc lập của người học. HS trong các trường dân tộc nội trú thường gặp khó khăn khi tự học, nguyên nhân chủ yếu là do các em thiếu kinh nghiệm học tập, thiếu hệ thống kiến thức v.v...Các em lại có thói quen sống tự do thoải mái, thiếu tư duy sáng tạo, logic, chưa đọc xong đề bài đã mang sách đi hỏi bạn, hỏi thầy. Hầu hết HS có thói quen trên lớp chép bài theo thầy cô đọc, về nhà học đi học lại cho thuộc nhưng không hiểu, khả năng vận dụng vào giải bài tập yếu ...
Để khắc phục tình trạng đó, ngay từ giữa thập kỉ chín mươi trong thế kỉ XX. Trường vùng cao Việt Bắc đã thực hiện tư tưởng của Bác Hồ về vấn đề tự học, tự đào tạo để nghiên cứu cách dạy, cách học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Các bước tiến hành gồm:
- Bước 1: Tổ chức GV thảo luận về mô hình dạy học tích cực "Phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học". Sau khi thảo luận, tập thể GV nhất trí cho rằng: "Người thầy bình thường chỉ biết truyền đạt chân lí cho HS; người thầy giỏi chủ yếu dạy cho HS biến tìm ra chân lí". Đây chính là "chìa khóa" mở ra con đường đi đến đổi mới phương pháp dạy của thầy và phương pháp học của trò trong trường phổ thông DTNT.
- Bước 2: Tổ chức "Hội thảo dạy học theo phương pháp tích cực". Mỗi bộ phận cử 1 GV giỏi dạy thử nghiệm 1 bài để tập thể GV dự và đánh giá kết quả; rút ra sự khác nhau giữa phương pháp dạy học tích cực và phương pháp dạy học thụ động. Mỗi GV đều nắm vững 8 nội dung khác nhau của 2 phương pháp đó.
- Bước 3: Tổ chức Hội thảo khoa học lần 2 và thảo luận về quá trình dạy và học tích cực đồng thời thống nhất ý kiến: Muốn thầy dạy tích cực thì HS phải học tích cực; cần tổ chức quá trình dạy của thầy thành quá trình tự học của trò, bao gồm một chu trình học của trò dưới sự hướng dẫn tích cực có trọng tâm có kế hoạch của thầy, đồng thời phát động toàn thể GV của trường dạy theo phương pháp tích cực.
HS trường phổ thông DTNT có thuận lợi ở tại kí túc xã, các em có 1 buổi nghe giảng trên lớp, 2 buổi tự học, do vậy chúng tôi đã tổ chức cho HS tự học như sau:
1. Hướng dẫn HS tự học: Sau mỗi bài giảng, GV dành 3-5 phút hướng dẫn HS về đọc trước bài giảng lần sau và đọc tài liệu tham khảo trong thư viện; cho HS thảo luận ở tổ. Với cách làm này, tuy lúc đầu HS có gặp khó khăn, nhưng khi đã quen dần, các em đã biết tự tìm tòi khảo sát, hiểu kiến thức mới và biết tự tạo ra sản phẩm có tính chất cá nhân.
2. Vào tiết học mới, GV vừa giảng vừa đưa ra các câu hỏi để kiểm tra việc tự học của HS. Các em thảo luận sôi nổi, mỗi em có sự hiểu bài theo cách riêng của mình. Như vậy, GV không phải giảng tuần tự như sách giáo khoa mà chỉ nêu tình hướng, dẫn dắt các em tự thể hiện và tự nhận ra kiến thức mới ở SGK đã có.
3. Trên cơ sở thảo luận, phát biểu ý kiến trong lớp GV định hướng cho HS trả lời vào trọng tâm câu hỏi và các em tự kiểm tra, tự đánh giá nhận thức của mình, rồi ghi chép những kết luận do GV đưa ra.
Bên cạnh đó, đối với HS trường phổ thông DTNT, GV cần chú ý dạy sao cho phù hợp với điều kiện, khả năng tiếp thu của trò. Ngoài việc hướng dẫn trên lớp, GV cần kèm cặp, hướng dẫn từng cá nhân HS, biết tự học, tựnghiên cứu; phải hiểu tâm sinh lí, trình độ từng HS để tranh thủ thời gian giúp các em tự học; tổ chức cho HS kèm cặp lẫn nhau, HS khá giúp đỡ yếu, từng bước đưa HS yếu thành trung bình và khả năng tự học. GV cũng cần chú ý dạy cho HS cách giao tiếp, khă năng trình bày một vấn đề; tổ chức cho HS hoạt động ngoại khóa như văn nghề, thể thao... để nâng cao năng lực ngôn ngữ và khă năng trình bày lưu loát.
Đối với HS dân tộc GV phải là người trọng tài, cố vấn có uy tín, tạo niềm tin ở các em. Khi HS trình bày một vấn đề không rõ ràng, hoặc nói sai (do ngô ngữ kém) GV cần khéo léo động viên các em suy nghì, trình bày lại một cách tế nhị, khéo léo, cởi mở.
Với cách làm trên, HS Trường vùng cao Việt Bắc đã có sự chuyển biến lớn về chất. Tời nay, nhà trường đã có 126 em HS giỏi quốc gia, và hàng trăm HS giỏi cấp tỉnh mỗi năm và gần 70HS được vào ĐH, dự bị ĐH và cao đẳng. Dù HS tuyển vào lớp 10 không cao song trong quá trình dạy theo phương pháp tích cực đã đem lại kết quả khả quản. Đặc biệt, trình độ nghiệp vụ của GV trường đã được nâng lên từng bước, biết tổ chức thành thạo các buổi đối thoại giữa "trò với trò thầy với thầy", biết tạo ra tình huống để dẫn HS tìm ra khái niệm khoa học, giải quyết bài tập và áp dụng kiến thức vào cuộc sống. HS biết tự kiểm tra đánh giá, tự sửa sai và điều chỉnh cách học, tạo cơ hội cho GV đánh giá HS chính xác hơn.

Nguồn: TC Giáo dục, Số 207, 2/2005, tr. 46, 45
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia