Bảo đảm nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Nông thôn đổi mới |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 24/Đường lối - Chính sách |
| Đề mục | : |
87.99 Các vấn đề khác của bảo vệ môi trường
87.51 Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên ở từng khu vực và từng nước 70.19 Cấp dẫn nước và cung cấp nước |
| Từ khoá | : | Nước sạch ; Bảo đảm ; Vệ sinh môi trường |
| Từ khoá phụ | : | Nông thôn |
| Nội dung: | ||
|
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra là: phấn đấu đến năm 2010 có 85% dân cư nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh với số lượng 60 lít/người/ngày. Đến năm 2020, tất cả dân cư nông thôn sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia, giữa sạch môi trường làng, xã, nơi công cộng. Trong năm 2005, phải kiểm soát bằng được việc chăn nuôi gia đinh, tập trung, sản xuất của các làng nghề để giữ sạch môi trường làng xã. Chống cạn kiệt, ô nhiễm, bảo vệ chất lượng nguồn nước ngầm, nước mặt tại các ao hồ, sông suối. Bảo đảm cho tất cả các nhà trẻ, trường học và các cơ sở giáo dục, bệnh viện, công sở, chợ nông thôn có đủ nước sạch và hố xí hợp vệ sinh, trước mắt, cần phải tập trung giải quyết một số nhiệm vụ cụ thể và cấp bách sau:
Một là, đẩy mạnh giáo dục truyền thông; coi trọng việc phát hiện và đề cao các nhân tố mới. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến sâu rộng trong nhân dân các mô hình mới, kinh nghiệm tốt, điển hình tiên tiến về nước sạch, vệ sinh môi trường trong thời gian vừa qua. Đây là vấn đề rất quan trọng nhằm làm cho không chỉ các cơ quan, đoàn thể mà mọi người dân thấu hiểu, học tập, làm theo mô hình tốt, điển hình tiên tiến. Bên cạch đó, cần tạo thành dư luận xã hội lên án nghiêm khắc đối với các hành vi gây mất vệ sinh, ô nhiễm môi trường. Đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền, phổ biến chính sách, chủ trương, pháp luật và các thông tin về nước sạch, vệ sinh môi trường. Hình thành ý thức giữ gìn vệ sinh chung, xoá bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu, các thói quen, nếp sống không văn minh, không hợp vệ sinh. Xây dựng các công sở, xí nghiệp, gia đình, làng bản, khu phố sạch, đẹp đáp ứng các yêu cầu về vệ sinh môi trường. Cổ động toàn dân tích cực tham gia hưởng ứng “Tuần lễ quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường” hàng năm. Hai là, chú trọng quản lý chất thải, nhất là chất thải nguy hại trong sản xuất công nghiệp, dịch vụ y tế. Kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật, hoá chất bảo quản nông sản, thức ăn và thuốc phòng trừ dịch bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản. Chấm dứt nạn đổ rác và xả nước thải chưa qua xử lý đạt tiêu chuẩn ra sông, rạch, ao hồ; xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường các lưu vực sông. Thu gom và xử lý toàn bộ rác thải sinh hoạt và rác thải công nghiệp bằng các phương pháp thích hợp, trong đó ưu tiên choviệc tái sử dụng, tái chế chất thải, hạn chế tối đa khối lượng rác chôn lấp. Thực hiện các biện pháp giảm thiểu khí độc, khói, bụi thải từ các hoạt động sản xuất, giao thông. Khắc phục tình trạng mất vệ sinh nơi công cộng và hình thành nếp sống hợp vệ sinh. Ba là, phát triển và đa dạng hoá các hình thức cung cấp nước sạch nhằm giải quyết cơ bản nước sinh hoạt cho nhân dân ở các vùng nông thôn trong cả nước; bảo vệ chất lượng nguồn nước; coi trọng khắc phục tình trạng khai thác, sử dụng bừa bãi, gây cạn kiệt, ô nhiễm các nguồn nước. Khắc phục cơ bản tình trạng ô nhiễm ở các làng nghề, các cơ sở sản xuất và các khu công nghiệp. Giải quyết cơ bản tình trạng ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trong các khu dân cư do chất thải trong sản xuất công nghiệp. Từng bước khắc phục các khu vực bị nhiễm độc do hậu quả chất độc của Mỹ sử dụng trong chiến tranh. Bốn là, bảo vệ nghiêm ngặt rừng tự nhiên, nhất là đối với các khu rừng nguyên sinh, rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn; đẩy mạnh trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và khôi phục rừng ngập mặn; ngăn chặn tình trạng thoái hoá và sa mạc hoá đất đai. Nghiêm cấm triệt để việc săn bắt chim, thú trong danh mục cần bảo vệ. Nâng cao chất lượng các nguồn nước, khắc phục tình trạng khai thác, sử dụng bừa bãi, gây cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước ngầm. Ưu tiên phục hồi môi trường các khu vực đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, các hệ sinh thái đang bị suy thoái nặng. Năm là, phát triển và đa dạng hoá các hình thức cung cấp nước sạch nhằm giải quyết cơ bản nước sinh hoạt cho nhân dân ở các vùng nông thôn trong cả nước. Ưu tiên cung cấp nước ở những nơi thiếu nước nhất, chú trọng nước cho tưới tiêu, tháo úng, phòng hạn hán, lũ lụt; nước thải sinh hoạt, chăn nuôi, chế biến nông sản phải được xử lý bằng công nghệ sinh học để tái sử dụng nước. Cần có biện pháp đối phó trước mắt, cũng như lâu dài để ngăn chặn tình trạng thiếu nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn. Có chính sách khuyến khích và hỗ trợ các hoạt động nước sạch và vệ sinh môi trường dựa trên cộng đồng để tăng nhận thức và lôi cuốn sự tham gia tích cực của người dân. Đó cũng là tiền đề để mọi người, mọi nhà tự cải thiện ngay điều kiện sử dụng nước và vệ sinh cùng gia đình, tích cực tham gia cùng cộng đồng chăm lo giữ gìn và phát triển sự nghiệp cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường. Cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường là nhiệm vụ cấp thiết, lâu dài, có tính liên ngành và liên vùng rất cao. Vì vậy, cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ hơn nữa của các cấp uỷ đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành và các đoàn thể chính trị - xã hội, để thực hiện bằng được tiêu chí xanh - sạch - đẹp và phát triển đất nước bền vững. Nguồn: Tạp chí Cộng sản, Số 6/2005; tr. 29-33. **************************** |
||
