Điểm sáng Phủ Quỳ |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Nông thôn đổi mới |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 24/Phát triển cơ sở hạ tầng |
| Đề mục | : | 68.01 Các vấn đề chung |
| Từ khoá | : | Công ty rau quả 19/5 ; Phát triển kinh tế |
| Nội dung: | ||
|
Ông Nguyễn Đức Điệp, Giám đốc Công ty (Cty) rau quả 19/5 cho biết: Cty rau quả 19/5 tiền thân là nông trường quân đội, thành lập ngày 19/5/1958, được giao nhiệm vụ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, đóng ở địa bàn vùng sâu, vùng xa. Cũng giống như các nông trường quốc doanh trong cả nước, sau khi xoá cơ chế bao cấp đơn vị chúng tôi cũng đã lâm vào tình trạng bế tắc về nhiều mặt, hoạt động SXKD bị trì trệ… Bằng chứng là sau hơn 10 năm đổi mới nhưng Nông trường chúng tôi vẫn loay hoay vì không xác định ra sản phẩm chính của mình để khẳng định vị thế trên thương trường. Nông trường mất hẳn vai trò, uy tín của một trung tâm vùng. Thậm chí rơi vào tình trạng đứng trên bờ vực phá sản, giải thể. Đứng trước tình trạng đó, từ năm 1998 đến năm 2000 lãnh đạo đơn vị đã mạnh dạn tìm hướng đi mới, thay đổi cơ chế SXKD để đưa Nông trường vượt qua khó khăn. Nhờ đó chúng tôi đã trụ vững và bắt đầu sản xuất đạt, vượt kế hoạch trên giao, từng bước sắp xếp lại tổ chức và tích cực áp dụng KHKT vào SX, tìm ra cơ chế, hướng đi phù hợp với cơ chế thị trường. Cái được lớn nhất của Cty rau quả 19/5 trong thời gian qua chính là việc Cty tổ chức hiệu quả dịch vụ 2 đầu trong SX cho 800 hộ nhận khoán và bà con nông dân trong vùng, tạo sức bật mới trong SX cho bà con. Trong đó, dịch vụ đầu vào rất gọn nhẹ, thông thoáng, hiệu quả luôn đảm bảo cung ứng kịp thời vật tư, phân bón, thuốc BVTV và nhất là vốn cho bà con... doanh số hàng năm bình quân đạt 3,2 tỷ đồng/năm. Không dừng lại ở việc cung cấp các loại vật tư phân bón, từ năm 2001 đến nay, Cty luôn chú trọng công tác trao đổi kinh nghiệm SX, hướng dẫn cách chăm bón cho từng hộ nhận khoán, coi đó là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả SXKD. Cty đã hợp tác chặt chẽ với các trung tâm, trạm trại kỹ thuật trên địa bàn để hàng tháng, tổ chức thuyết trình đầu bờ và thảo luận kỹ về tính năng, tác dụng của các loại phân bón, thuốc trừ sâu để bà con áp dụng vào từng thời kỳ sinh trưởng của cây. Dựa vào đặc tính cây trồng và điều kiện khí hậu của địa phương, Cty đã hướng dẫn bà con phương pháp sử dụng nguồn vật tư sẵn có trong vùng để chống ẩm và khắc phục hạn hán có hiệu quả bằng việc tủ bã mía chống hạn cho cây trồng cạn. Sau quá trình SX, nghiên cứu, thử nghiệm, năm 2004, Cty áp dụng thành công quy trình mới về bón phân với liều lượng thích hợp trước kỳ thu hoạch để tạo mã quả, nâng cao chất lượng và khả năng lưu giữ trên cây cho vườn cam chín kéo dài thời gian kỳ thu hoạch để có thể phục vụ nhu cầu thị trường dịp Tết Nguyên đán. Gần đây, Cty đã đầu tư hệ thống kho lạnh và một số công nghệ mới để có thể bảo quản cam sau thu hoạch thêm 130 ngày, để tạo điều kiện cho người SX cam tiêu thụ rải vụ đạt hiệu quả kinh tế cao hơn. Dịch vụ đầu ra cũng được thực hiện một cách quyết liệt. Từng bước tạo nhận thức cho người SX trong cách thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá nông sản. Quy định rõ lịch thu hái sản phẩm xuất bán. Sự điều tiết thời gian thu hái, tiêu thụ đã có tác dụng tích cực trong việc nâng cao thu nhập cho người trồng. Song hành với nó là công tác quảng bá, tiếp thị sản phẩm cam Vinh, tại các hội chợ lớn trong nước, nhờ đó sản phẩm cam Vinh đã có ấn tượng tốt đẹp trong người tiêu dùng. Đây là lý do giải thích vì sao giá bán bình quân tại vườn đã tăng lên gấp đôi so với trước đây. Điều đặc biệt vui mừng là tại các Hội chợ lớn trong nước, giá trần cam Vinh đạt ngưỡng với 40 nghìn đồng/kg, kỷ lục cao nhất từ trước tới nay. Hiệu quả kinh tế thu được trên từng đơn vị SX đã kích thích bà con tích cực đầu tư thâm canh nâng cao phẩm cấp, chất lượng sản phẩm hàng hoá lên 70%. Năm 2004, bằng những nỗ lực của mình, Cty đã đăng ký được thương hiệu cam Vinh cho sản phẩm của đơn vị; hình thành được bao bì nhãn hiệu tạo nét văn minh thương mại hàng hoá cây ăn quả Việt Nam. Năm 2005 này, Cty đang tiếp tục nghiên cứu và từng bước thử nghiệm hiệu quả quy trình chăm bón để tạo mẫu mã sản phẩm cam quả tương xứng với chất lượng đỉnh cao hiện nay nhằm vươn tới thị trường XK. Nguồn tin: Báo Nông nghiệp Việt Nam ra ngày 1 tháng 6 năm 2005. ************************** |
||
