Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

Giá cả thị trường

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 24/Bảo quản - Chế biến - Tiêu thụ
Đề mục : 06.61 Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ. Kinh tế theo vùng
06.01 Các vấn đề chung
Từ khoá : Giá cả thị trường
Nội dung:
GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG
Giá thóc gạo bắt đầu giảm

Giá thóc gạo bắt đầu giảm nhẹ trên phạm vi cả nước. Tại các tỉnh ĐBSH, giá thóc tẻ thường còn 2.400 - 2.450 đồng/kg, giảm 50 - 100 đồng/kg; gạo tẻ thường ở mức 4.500 - 4.700 đồng/kg, giảm 100 - 200 đồng/kg; gạo ngon giảm 500 đồng/kg còn 6.500 đồng/kg.
Tại các tỉnh ĐBSCL, giá thóc tẻ thường phổ biến ở mức 2.350-2.400 đồng/kg, thóc tốt 2.450 - 2.500 đồng/kg, giảm 20-50 đồng/kg. Giá gạo nguyên liệu xuất khẩu cũng giảm nhẹ 20 - 50 đồng/kg còn 3.180 đồng/kg (loại 1) và 3.100 đồng/kg (loại 2).
Giá thóc gạo giảm là do các tỉnh phía Bắc bắt đầu thu hoạch vụ chiêm xuân và nông dân các tỉnh ĐBSCL bán gạo dự trữ khiến nguồn cung trong nước dồi dào.
Nguồn tin: Báo Nông thôn ngày nay ra ngày 8 tháng 6 năm 2005
****************************
Giá hạt điều xuất khẩu tăng mạnh
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, từ đầu năm đến nay, giá hạt điều xuất khẩu của Việt Nam liên tục tăng, hiện đang ở mức kỷ lục 5.200-5.300 USD/tấn. Nhờ giá tăng nên tuy sản lượng hạt điều xuất khẩu chỉ tăng gần 2% nhưng kim ngạch xuất khẩu điều đã tăng tới 37% so với cùng kỳ năm trước. Trong 5 tháng đầu năm, cả nước đã xuất khẩu 33.000 tấn hạt điều, đạt kim ngạch trên 162 triệu USD.
Trong nước, giá hạt điều tươi cũng đang ở mức cao nhất kể từ năm 1999 đến nay với mức 14.000-15.000 đồng/kg, cao hơn khoảng 5.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2004.
Nguyên nhân giá hạt điều tăng mạnh là do hạn hán đang diễn ra trầm trọng tại những vùng trọng điểm trồng điều như khu vực Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ, khiến sản lượng điều sụt giảm.
Theo Hiệp hội Điều Việt Nam, năm nay sản lượng điều trong nước chỉ đạt 350.000 tấn, giảm khoảng 50.000 tấn so với nhận định từ đầu vụ. Để có nguồn nguyên liệu sản xuất đáp ứng các đơn hàng đã ký, các doanh nghiệp chế biến hạt điều tiếp tục tăng sản lượng điều thô nhập khẩu từ các nước châu Á và châu Phi. Tuy nhiên, hiện nay giá điều thô nhập khẩu cũng đang ở mức cao, lên tới 17.500-18.000 đồng/kg.
Hiệp hội Điều Việt Nam đã khuyến cáo các doanh nghiệp chế biến điều liên kết với các địa phương mở rộng diện tích trồng điều, thay thế các vườn điều giống cũ bằng các giống mới cao sản, có khả năng chịu hạn, thích nghi với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của các địa phương nhằm hình thành các vùng chuyên canh điều có năng suất và sản lượng ổn định.
Nguồn tin: Theo Thông tấn xã Việt Nam ra ngày 8 tháng 6 năm 2005
**************************
Thị trường hàng hóa trong nước ngày 6/6/2005
Trà Vinh: Trồng khoai giống Nhật Bản thu lãi cao
Tại xã Ngọc Biên, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, khoai lang Nhật Bản đang được giá. Hiện 1kg khoai lang Nhật Bản có giá từ 1.500 - 1.800 đồng, sau khi trừ chi phí, mỗi hécta trồng khoai lang lãi trên 15 triệu đồng, cao gấp 2 đến 2,5 lần so với giống khoai lang địa phương.
Những người trồng khoai lang ở đây cho biết, khoai lang Nhật Bản là giống mới do Trung tâm Khuyến nông tỉnh Trà Vinh đưa vào trồng thử nghiệm, rất thích nghi với đất giồng cát, có thể trồng 2 vụ/năm. Kỹ thuật trồng, chăm sóc rất đơn giản, cũng giống như trồng khoai lang địa phương, từ khi trồng đến thu họach khoảng 3 tháng nhưng giống khoai lang này cho củ to, vị béo ngọt nên bán rất chạy.
Vĩnh Long: giá lúa, gạo ở mức cao
Giá lúa, gạo tại Vĩnh Long hiện ở mức cao. Giá 1kg lúa thường ở mức 2.350 - 2.400 đồng, gạo từ 3.300 - 3.500 đồng, tăng 1,23 % so với tháng trước và tăng 6,14% so với đầu năm tăng 6,14%.
Cùng với giá gạo bán trên thị trường nội địa tăng cao giá gạo xuất khẩu của Vĩnh Long cũng được giá. Hiện Công ty lương thực - thực phẩm Vĩnh Long đang chào bán gạo 5% tấm với giá 250 USD/ tấn, gạo 15 % là 240 USD/ tấn. So với đầu năm, mức giá này tăng từ 20 - 50 USD /tấn (tùy loại).
Đến cuối tháng 5, tỉnh Vĩnh Long đã xuất khẩu trên 227.000 tấn gạo, tăng 38,18% so với cùng kỳ năm 2004 và chiếm tỷ trọng hơn 80 % kim ngạch xuất khẩu của tỉnh.
Kiên Giang: tôm nguyên liệu vẫn giảm giá
Giá tôm nguyên liệu tại Kiên Giang liên tục giảm mạnh. Hiện giá tôm bán tại vuông nuôi chỉ còn 65.000 đồng/kg. Loại tôm loại 30 con/kg cách đây 1 tháng có giá từ 120.000 - 140.000đồng/kg, nay bán lẻ tại các chợ chỉ 85.000 đồng/kg.
Trước tình hình giá tôm xuống thấp nên đã có nhiều hộ nuôi tôm đành chấp nhận chờ giá cao mới bán mặc dù tôm đến thời kỳ khai thác. Chính vì thế từ đầu năm đến nay, Kiên Giang chỉ xuất khẩu được 525 tấn tôm đông lạnh và chỉ đạt 7,5% kế hoạch năm.
Trái cây vào mùa giá thấp
Tại Vĩnh Long, nhiều loại trái cây đang vào mùa thu hoạch rộ và đứng giá thấp. Giá 1kg chôm chôm bán tại các chợ đầu mối từ 2.000 - 2.500 đồng/kg nhưng thương lái mua tại vườn chỉ từ 1.200 - 1.500 đồng/ kg.
Tương tự, giá nhãn long, nhãn da bò tại chợ từ 2.250 - 2.500 đồng/ kg, tại vườn chỉ từ 1.000 - 1.600 đồng/kg. Cam sành Tam Bình tuy đang là mùa nghịch nhưng giá cũng chỉ từ 10.000 - 12.000 đồng/kg, thấp hơn từ 6.000 - 7.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2004.
Tuy nhiên có một số loại trái cây đặc sản năm nay tiếp tục trúng mùa và trúng giá. Bưởi Năm Roi có giá từ 5.000 - 6.000 đồng/kg, tăng 1.000 - 1.500 đồng/kg so với cùng kỳ; sầu riêng cơm vàng hạt lép 14.000 đồng/kg, tăng 2.000 - 3.000 đồng; sầu riêng khổ qua 5.500 - 7.000 đồng/kg.
Hiện nay, diện tích vườn cây ăn trái của Vĩnh Long chiếm trên 35 % diện tích đất nông nghiệp, dự kiến đến cuối năm 2005 diện tích trồng cây lâu năm của tỉnh đạt 44.000 ha.
Lạng Sơn: Giá thực phẩm giảm
Tại Lạng Sơn, giá thực phẩm tươi sống đang giảm mạnh. Hiện giá 1kg thịt bò ở mức 65.000 đồng, giảm giá 15.000 đồng so với nửa tháng trước.
Thịt lợn hơi giá giảm ít hơn với mức giảm 2.000 đồng/kg, đứng ở mức 13.500 đồng/kg. Riêng thịt lợn mông ở mức 27.000 đồng/kg (giảm 3.000đồng/kg). Gía gà hơi loại ngon cũng giảm từ 34.000 đồng/kg xuống còn 32.000 đồng/kg. Rau xanh giá cũng giảm, rau muống vận chuyển từ các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh lên Lạng Sơn trong tuần trước có giá 3.000 đồng/kg, nay giảm còn 2.000 đồng/kg.
Nguồn tin: Theo Thông tấn xã Việt Nam ra ngày 7 tháng 6 năm 2005
***************************
Đường hạ nhiệt, giá ổn định dần

Đa số các nhà nhập khẩu châu Á có khả năng sẽ không đặt thêm đơn hàng nào trong những tuần tới do dự trữ đã đầy đủ. Giá đường Việt Nam cũng đã ổn định lại. Trước tình hình đó, một số nước như Indonesia đang yêu cầu hạ giá mua để ép giá các nhà xuất khẩu. Tính tới nay, nước này đã mua vào 135.500 tấn đường thô trong tổng số 227.000 tấn đường được cấp phép mua trong cả năm 2005. ^
Ở Trung Quốc, các hãng buôn cho biết giá đã ổn định và Bắc Kinh dự định xuất ra tới 411.800 tấn trong thời gian từ tháng 6-7. Lượng đường Trung Quốc sản xuất cho tới nay có giảm hơn số lượng năm ngoái do ảnh hưởng của hạn hán ở nhiều vùng. Tuy vậy, nước này vẫn chưa hề có kế hoạch nhập khẩu đường.
Ấn Độ, nước tiêu thụ đường lớn nhất thế giới, thì đã gần như hoàn tất việc mua dự trữ theo kế hoạch cả năm, do đó, cũng sẽ không tiến hành nhập khẩu thêm trong thời gian từ giờ tới cuối vụ đường năm nay (tháng 9).
Tại Thái Lan, tình hình mua bán đường cũng tĩnh lặng hơn nhiều. Các nhà xuất khẩu ở đây, do lo lắng vụ đường sau sẽ thất thu vì thời tiết khắc nghiệt, đang tỏ ra dè dặt và chưa định bán đi với số lượng lớn.
Trong số 57.000 tấn đường được phép nhập khẩu, các nhà máy bột ngọt được phép nhập 50.000 tấn; các công ty sản xuất thực phẩm ở Hải Phòng được nhập 5.000 tấn; các công ty sản xuất thực phẩm ở Hải Dương nhập 2.000 tấn.
Trong lúc này, các quan chức ngành mía đường của Việt Nam vẫn đang lo ngại sẽ thiếu đường do hậu quả hạn hán, với số lượng thiếu hụt vào khoảng 150.000 tấn.
Ông Lê Văn Tam, Chủ tịch Hiệp hội mía đường Việt Nam, cho biết phải tiến hành nhập 57.000 tấn đường thô theo sự cho phép của Liên Bộ Thương mại và Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn để đối phó với tình trạng thiếu đường do hạn hán kéo dài hiện nay.
Hiện giá đường tinh luyện trong nước đã có dấu hiệu giảm "sốt", với mức giá khoảng 7.000 đồng/kg so với mức 7.200 - 7.300 đồng/kg hồi đầu tháng trước.
Nguồn tin: VietNamNet ra ngày 7 tháng 6 năm 2005
*************************
Tham khảo giá gạo tại thị trường Châu Âu ngày 07/06/2005
Đơn vị tính: USD/tấn, C+F Rotterdam

Gạo Thái Lan Giá
Gạo tấm cao cấp loại 1(giao rời) 258
Gạo Loonzain 100% loại B (giao rời) 339
Gạo đồ Loonzain 100% sortex 350
Gạo trắng 100% loại B 373
Gạo tấm thơm A1 extra super 336
Gạo thơm Loozain 453
Gạo Mỹ, USD/100lb Giá
Gạo lức thường 2/4/75 13,35
Gạo lức đồ 1/4/88 13,95
Gạo Italy, euro/tấn,FCAVercelli Area, giao rời Giá
Gạo Indica 5% 320
Gạo hạt tròn 5% 320
Gạo Indica Pb 5% Sortex 400
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 7 tháng 6 năm 2005
****************************
Tham khảo giá gạo giao ngay trên thị trường Mỹ ngày 07/06/2005
Đơn vị tính: USD/tấn
Loại gạo Giá hôm trước Giá đóng cửa Mức tăng giảm so với hôm trước
Gạo hạt dài số 5, 10% tấm 310 300 -10
Gạo hạt vừa số 5, 20% tấm 310 300 -10
Gạo hạt dài sô 2, 4% tấm 340 330 -10
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 7 tháng 6 năm 2005
**********************
Giá cà phê Robusta tại Singapore ngày 07/06/2005
Đơn vị tính: USD/tấn
Giao kỳ hạn Giá đóng cửa
7/05 1257
9/05 1267
11/05 1281
01/06 1294
03/06 1304
05/06 1315
7/06 1329
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 7 tháng 6 năm 2005
***************************
Tham khảo giá cà phê xuất khẩu của Brazil ngày 07/06/2005
Đơn vị tính: Euro/tấn, FOB Santos.
Loại hợp đồng Kỳ hạn giao Giá giao Mức thay đổi
BR Ara S4 xSan 06/05 1755 +4
BR Ara S4 e1San 07/05 1765,4 +4
BR Ara S4 e2San 08/05 1774,2 +3,2
BR Ara S4 e3San 8-10/05 1764,8 +0,6
BR Ara S4 e4San 78/05-1/06 1830,2 +34,6
BR Ara S4 e5San 2-7/06 1961,4 +9,1
BR Ara S6 Fine Giao ngay 1833,3 -22,2
BR Ara S6 Boa Giao ngay 1702,7 -22,2
BR Ara S6 Riados Giao ngay 1154,2 -22,1
BR Ara S6 Bebida Giao ngay 1075,8 -22,2
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 7 tháng 6 năm 2005
***************************
Tham khảo giá đường hợp đồng số 11 tại Sở giao dịch New York (CSCE) ngày 07/06/2005
Đơn vị tính: Scent/lb (1lb = 0,454 kg)
Giao kỳ hạn Giá mở cửa Giá cao Giá thấp Giá đóng cửa Mức tăng giảm so hôm trước
7/05 8,79 8,87 8,79 8,8 -0,03
10/05 8,88 8,96 8,88 8,91 -0,01
3/06 8,94 9,03 8,94 8,98 +0,01
5/06 8,86 8,91 8,86 8,89 +0,01
7/06 8,76 8,84 8,76 8,8 +0,03
10/06 8,69 0 0 8,74 +0,04
3/07 8,71 8,72 8,7 8,74 +0,02
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 7 tháng 6 năm 2005
***************************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia