GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH CAO SU VIỆT NAM |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Nông thôn đổi mới |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 21/Thị trường thế giới |
| Đề mục | : |
68.35 Trồng trọt
68.99 Các vấn đề khác của nông nghiệp và lâm nghiệp |
| Từ khoá | : | cao su |
| Nội dung: | ||
|
Mặt hàng cao su hiện đang đứng thứ 3 về kim ngạch xuất khẩu trong số các mặt hŕng nông sản của Việt Nam, sau gạo và cà phê. Trong những năm gần đây, ngŕnh cao su đă đạt được bước phát triển khá cao. Tuy nhięn, để đạt được sự phát triển bền vững trong thời gian tới, nhất lŕ trong bối cảnh cạnh tranh không ngừng trên thị trường, cần tiếp tục có nhiều biện pháp để phát triển ngŕnh cao su Việt Nam.
Giải pháp đầu tięn là tạo sự cân đối về thị trường tiêu thụ. Năm 2004, giá trị cao su xuất khẩu đạt tręn 596 triệu USD, tăng gần 58% so với năm 2003. 4 tháng năm 2005, giá trị cao su xuất khẩu đạt khoảng 196,5 triệu USD, tăng 24.4% so với cůng kỳ năm ngoái. Hiện nay lượng cao su xuất khẩu chiếm tới 90% tổng sản lượng khai thác, với thị trường khá đa dạng. Trung Quốc vẫn lŕ thị trường dẫn đầu về tięu thụ cao su xuất khẩu, với tỷ trọng trên 59%, Đài Loan 3,7%, Đức 3,6%. Cùng với việc tạo sự cân đối bền vững trong khâu tiêu thụ, cần chú trọng giải pháp đảm bảo nguồn cung. ở thời điểm hiện nay, khi giá cao su vẫn đang có khả năng tăng lęn thì nhiều doanh nghiệp không còn hàng để xuất. Để đạt được mục tięu đề ra vŕo năm 2010 với sản lượng khoảng 520.000 tấn mủ khô, nhiều chuyęn gia của Hiệp hội cao su kiến nghị quy hoạch phát triển cao su ở những vùng đất rừng nghèo, những vùng đất thích hợp có lợi thế cho cây cao su hơn so với các loại cây trồng khác; đồng thời tập trung thâm canh tăng năng suất vŕ cải tiến trong khâu thu hoạch mủ cao su. Ngoài ra, còn cần những ưu đãi về chính sách thuế, tiêu chuẩn xử lý nước thải phù hợp với đặc thù của ngành, chính sách đầu tư phát triển cao su ở vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó lŕ các giải pháp đầu tư cho chế biến. Các chuyęn gia đề xuất, đến năm 2010, cần xây dựng thęm các nhà máy mới với quy mô mỗi nhà máy là 1.200- 1.500 tấn/năm ở miền Trung và Tây Nguyên nhằm phục vụ cho việc chế biến cao su tiểu điền, đồng thời xây dựng thêm khoảng 9-10 nhà máy có quy mô 6.000- 20.000 tấn/năm/nhà máy ở Đông Nam Bộ. Việc phát triển các cơ sở chế biến cần gắn với vùng nguyên liệu và khả năng cung cấp nguyên liệu cũng như có sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường. Đặc biệt, trong xu hướng hội nhập hiện nay, việc tham gia vào các tổ chức quốc tế chuyên ngành cũng cần được xem xét. Nguồn: Vinanet ngày 20/05/2005 |
||
