Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2005 » Số 21 » Đường lối - chính sách » Giải pháp thủy lợi phục vụ nuôi tôm sú ven biển Trà Vinh

Giải pháp thủy lợi phục vụ nuôi tôm sú ven biển Trà Vinh

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 21/Đường lối - chính sách
Đề mục : 69 Thuỷ sản
Từ khoá : thuỷ sản tôm sú
Nội dung:
Công trình cấp thoát nước nuôi trồng thủy sản
Nuôi trồng thủy sản chỉ có thể phát triển khi có một hệ thống thủy lợi phát triển phù hợp với nó, đáp ứng yêu cầu cung cấp đủ nước mặn, nước ngọt với chất lượng đảm bảo; tiêu thoát hết nước thải và có khả năng cách ly các nguồn nước thải với nguồn nước cung cấp cho nuôi trồng thủy sản.
Trước đây trồng lúa thì vấn đề mấu chốt là hệ thống công trình thủy lợi phải đảm bảo yêu cầu ngăn mặn, giữ ngọt, thau chua rửa phèn, tiêu úng. Nước ngọt được giữ trên mặt ruộng từ 0,1 đến 0,2m, giữ trong hệ thống kênh trong phạm vi từng tiểu vùng. Tiêu úng là tiêu tự chảy, có thể tràn từ ruộng qua ruộng, qua kênh; lưu lượng tiêu không lớn. Nay chuyển sang nuôi trồng thủy sản, việc cấp và thoát nước bằng tự chảy rất khó khăn, đặc biệt là việc tiêu thoát nước thải. Chính vì vậy, trong hệ thống thủy lợi phải bố trí hệ thống kênh mương nội đồng sao cho từng ô thửa đều có chỗ lấy nước và đường xả nước ra (cấp, thoát nước riêng biệt).
Công trình ngăn mặn
Trên cơ sở hệ thống thủy lợi đã hình thành trong giai đoạn ngọt hóa, tiếp tục hoàn thiện, nâng cấp, mở rộng các công trình đã có và bổ sung thêm những công trình mới đủ khả năng đáp ứng nhu cầu mới của sản xuất.
Đối với mô hình nuôi tôm quảng canh, chuyên tôm quảng canh cải tiến, mô hình tôm-rừng, trước mắt chỉ nên nạo vét, mở rộng các kênh cũ và mở thêm một số tuyến kênh tạo nguồn mới để tăng khả năng tiêu thoát, xây dựng công trình điều tiết trên từng ô thửa và xây dựng một số tuyến đê bao xung yếu, vừa phù hợp với trình độ quản lý. Đối với các vùng xa, chưa chủ động trong việc lấy nước mặn, thoát nước thải và còn hạn chế về vốn thì nên khuyến khích nhân dân áp dụng mô hình nuôi tôm sinh thái, thả thưa, hạn chế thay nước, hạn chế cho ăn.
Các công trình chống lũ
Đối với mô hình tôm-lúa, mô hình mang tính đặc thù của ĐBSCL cũng như của Trà Vinh, cần xây dựng hệ thống công trình mới, hoàn chỉnh, có khả năng vừa đảm đương nhiệm vụ phục vụ nuôi trồng thủy sản về mùa khô, vừa phục vụ trồng lúa vào mùa mưa với những yêu cầu giữ ngọt, tiêu chua, xả phèn, rửa mặn vào đầu vụ (tháng 5-6) và tiêu úng vào giữa vụ (tháng 9-10). Nhu cầu đầu tư hệ thống thủy lợi cho mô hình này rất lớn. Do vậy, trước mắt cần nạo vét kênh mương, mở rộng hệ thống kênh tạo nguồn, tăng cường khả năng tiêu thoát, hoàn chỉnh hệ thống công trình nội đồng để chủ động điều tiết trên ô ruộng.
Công trình thủy lợi đối với ao nuôi tôm sú
* Xây dựng đê bao, mương cấp và thoát nước. Đê bao phải cao hơn mực nước thủy triều cao nhất từ 0,3 đến 0,5m. Mương phải được thiết kế với độ dốc 15%, xuôi về phía đáy cống để dễ thoát nước và thuận lợi trong khi thu hoạch. Kích thước của các loại mương được thiết kế trên cơ sở yêu cầu lượng nước và thời gian làm đầy cũng như tháo cạn ao. Trong tính toán thiết kế, cần đặc biệt chú ý đến lượng nước mưa có thể chứa trong ao trong thời gian mưa phổ biến tại khu vực.
Đối với các cống, phải có kích thước thích hợp để lấy đủ nước và tháo cạn ao trong một con triều, cống phải được đặt sao cho nước vào ở tầng đáy, tránh trường hợp mưa to nước mặn bị ngọt hóa, dẫn đến có thể phải thay nước cả tầng mặt lẫn tầng đáy của ao.
* Vị trí và nguồn nước. Ao nuôi tôm nên xây dựng hướng ra các kênh theo xu thế dễ lấy nước ngọt và nước mặn, tạo thuận lợi cho việc kiểm soát độ mặn của nước. Nguồn nước phải đảm bảo không bị ô nhiễm của công nghiệp, nông nghiệp hay của chính quá trình nuôi tôm. Tránh tình trạng nước thải của vùng này lại là nước cấp cho vùng khác.
* Yêu cầu mực nước và thay nước. Đối với tôm sú, ao phải có nước sâu 1,1-1,2m. Mực nước trong ao tác động rất mạnh đến sự thay đổi của nhiệt độ, độ pH… Đối với ao nuôi tôm bán thâm canh nhất thiết phải có kênh cấp và thoát nước riêng biệt. Nước cho nuôi tôm sú cần phải đạt độ mặn 5-25% để đảm bảo cho năng suất cao.
* Tiêu chí về hệ thống thủy lợi: Diện tích kênh mương > 25% diện tích canh tác; hệ thống cấp và thoát nước cho nuôi tôm phải tách biệt; tổng lượng nước thay đổi trong quá trình nuôi tôm cần đạt khoảng 15-30% tổng lượng nước dùng vào mùa khô; độ sâu của ao nuôi đạt 1,1-1,2m; độ sâu mương nội đồng 0,7-0,8m, ngập nước tối thiểu là 0,6m.
Kết luận và đề nghị
Vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống kênh rạch chằng chịt, ăn thông với nhau và thông ra biển Đông, biển Tây, tạo nên một chế độ thủy lực phức tạp, gây nhiều khó khăn cho việc cấp và thoát nước riêng rẽ, nhất là đối với những vùng ở xa nguồn nước. Do vậy khi tính toán hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản cho từng tiểu vùng cần tính thủy lực cho toàn mạng và phải tính toán chọn lựa tổ hợp vận hành công trình cống thích hợp và đáp ứng nhu cầu điều tiết mặn, ngọt tốt nhất tại các vị trí khác nhau, đồng thời đáp ứng yêu cầu của cải tạo môi trường.
Thực tế ở ĐBSCL nói chung và tỉnh Trà Vinh nói riêng cho thấy, đại bộ phận diện tích nuôi trồng thủy sản hiện nay không đảm bảo có khả năng cấp và tiêu nước riêng biệt nên tình trạng môi trường vùng nuôi tôm bị ô nhiễm, bệnh tật lây lan là điều khó tránh khỏi. Vì vậy, đối với mô hình sản xuất lúa-tôm, mô hình nuôi trồng đặc trưng của vùng, cần xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là xây dựng hệ thống thủy lợi nhằm đề ra một quy trình hoàn thiện về sản xuất. Đối với các vùng diện tích chuyên nuôi tôm, tôm-lúa không tập trung mà xen kẽ với các khu sản xuất theo sinh thái nước ngọt, cần nghiên cứu giải pháp thủy lợi đồng bộ phục vụ cho các nhu cầu sản xuất theo hướng đa dạng thích nghi, trong đó cần chú trọng kỹ thuật xây dựng và cải tạo đồng ruộng phù hợp cho các mô hình sản xuất (lúa-màu, tôm-lúa, chuyên tôm,…).
Nguồn: Tác giả: Huỳnh Phú, TC Hoạt động Khoa học & Công nghệ số tháng 10/2004, tr. 37
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia