Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2005 » Số 21 » các vấn đề khác » Nông nghiệp nông thôn - Chuyển mình trước vận hội mới

Nông nghiệp nông thôn - Chuyển mình trước vận hội mới

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 21/các vấn đề khác
Đề mục : 68.99 Các vấn đề khác của nông nghiệp và lâm nghiệp
69.01 Các vấn đề chung
Từ khoá : nông nghiệp nông thôn
Nội dung:
Đổi thay vượt bậc từ chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
Năm 2004 được coi là mùa gặt hái nhiều thành công của ngành nông nghiệp. Quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn được đẩy mạnh. Sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, sản lượng hầu hết các sản phẩm đều tăng, đặc biệt lương tựhc và các sản phẩm xuất khẩu chủ lực. Công nghiệp và dịch vụ có bước phát triển mới. Toàn ngành Nông nghiệp đạt kết quả toàn diện trên các lĩnh vực sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, thủy lợi,… nhất là an ninh lương thực quốc gia được giữ vững và tăng lượng gạo xuất khẩu lên mức kỷ lục. Cả nước đã hình thành được nhiều vùng sản xuất như: Vùng sản xuất lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long, vùng trồng cà phê Tây Nguyên, vùng cây ăn quả, bông vải Nam Bộ, vùng cao su ở Đông Nam Bộ, vùng chăn nuôi gia súc, chế biến ở phía Bắc,… Những vùng này đã phát huy thế mạnh và tiềm năng. Đời sống của nông dân được cải thiện, góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo, đồng thời tiếp tục xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ lâu dài cho sản xuất và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Tất cả những điểm nhấn trên đều được thể hiện bằng số liệu cụ thể. Trong năm 2004, tổng sản lượng lương thực đạt 39,322 triệu tấn, trong đó lúa đạt 35,687 triệu tấn, vượt mục tiêu Đại hội Đảng lần thứ IX đề ra 1,5 triệu tấn, góp phần nâng khối lượng xuất khẩu gạo lên hơn 4 triệu tấn, giúp Việt Nam vững vàng ở vị trí nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới. Sản xuất một số sản phẩm thay thế nhập khẩu và có thị trường tiêu thụ trong nước như ngô, đỗ tương, bò sữa tiếp tục tăng nhanh. Các cây công nghiệp xuất khẩu được tăng cường đầu tư thâm canh, sản lượng tăng (cà phê đạt 834.600 tấn, tăng 5,1% cao su đạt 400.000 tấn, tăng 10%; điều tăng 26%; tiêu tăng 7,4; chè tăng 8,7%…). Diện tích cây ăn quả tiếp tục được mở rộng, tăng 23.000ha, đạt gần 747.000, sản lượng đạt 4 triệu tấn, tăng 10%. Mặc dù trong năm vừa qua xảy ra dịch cúm gia cầm và giá thức ăn tăng cao nhưng chăn nuôi gia súc vẫn phát triển mạnh: Đàn bò 4,908 triệu con, đàn lợn 26,144 triệu con, đàn gia cầm 218,153 triệu con, đàn dê, cừu 800.000 con. Trong niên vụ sản xuất 2004-2005, sản lượng đường đạt 1,220 triệu tấn, tăng 11.300 tấn so với niên vụ 2003-2004… Theo Bộ NN&PTNT, có được những kết quả trên là do sự đồng tâm, đồng lòng của toàn dân, đồng thời toàn ngành đã tập trung tổ chức, hướng dẫn, chuyển giao công nghệ mới, bao gồm cả công nghệ hiện đại và giản đơn cho nông dân và các cơ sở sản xuất kinh doanh, nhất là các thiết bị công nghệ sau thu hoạch, đáp ứng yêu cầu bảo quản, chế biến sản phẩm, nâng cao chất lượng và giá trị hàng hóa. Được sự quan tâm của Chính phủ nên cơ sở hạ tầng nông thôn được tăng cường góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và nâng cao đời sống nông dân.
Năm 2004 đánh dấu sự tăng trưởng nổi trội trong hoạt động xuất khẩu nông, lâm sản với, kim ngạch xuất khẩu hàng nông lâm sản tăng 32%, đạt mức cao nhất từ trước tới nay với 4,284 tỷ USD. Các mặt hàng chủ lực của nước ta tiếp tục giữ vững vị thế cao trên thị trường thế giới. Khối lượng gạo xuất khẩu đạt 4,06 triệu tấn, kim ngạch 941 triệu USD, tăng 6,3% về lượng và 31% về giá trị. Đối với cà phê xuất khẩu đạt 906 ngàn tấn, kim ngạch đạt 594 triệu USD. Hạt điều nhân xuất khẩu đạt 103 ngàn tấn, đạt 425 triệu USD. Hạt tiêu xuất khẩu 110 ngàn tấn, đạt 150 triệu USD. Cao su xuất khẩu 495 ngàn tấn, kim ngạch 579 triệu USD, tăng 14% về khối lượng và 53% về kim ngạch. Xuất khẩu lâm sản cả năm đatn 1.12 triệu USD, trở thành một trong sáu mặt hàng có kim ngạch đạt trên 1 tỷ USD.
Cơ cấu cây trồng vật nuôi từng bước được chuyển đổi hợp lý gắn với thị trường hơn. Đặc biệt cơ chế chính sách đã tạo động lực lớn cho tăng trưởng xuất khẩu gắn với những cải thiện môi trường kinh doanh, đầu tư, thu hút sự tham gia chủ động của các thành phần kinh tế, thắt chặt hơn mối cộng tác giữa doanh nghiệp và người sản xuất, tạo thuận lợi cho nguồn cung tiến gần với cầu. Hơn nữa, theo nhận định của các chuyên gia, nhà doanh nghiệp cùng các bên liên quan đã chú trọng hơn đến hoạt động thông tin, phát triển thị trường với phương châm đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa sản phẩm. Kết quả là hàng nông, lâm sản Việt Nam đã có mặt ở khắp các châu lục, trong đó có thị trường châu á vẫn là thị trường lớn nhất, chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu. Các thị trường châu Âu, châu Mỹ, châu Phi… được mở rộng với mức tăng kim ngạch GP 1,5-2,5 lần so với cùng kỳ. Điểm đáng chú ý, sức cạnh tranh của hàng nông, lâm sản Việt Nam đã được cải thiện. Nhiều mặt hàng giữ ở vị trí cao trên thị trường quốc tế. Những kết quả đạt được của Nông nghiệp Việt Nam ở trên tạo cơ sở chắc chắn cho hoạt động xuất khẩu của ngành trong năm cuối của kế hoạch 5 năm (2001-2005), đồng thời cũng là điểm nhấn để ngành nông nghiệp Việt Nam chuẩn bị bước sang kế hoạch 5 năm mới (2006-2010).
Nguồn: Thông báo số 21 của Bộ Tài chính, ngày 18/02/2005
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia