Những thay đổi ở Thường Xuân |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Nông thôn đổi mới |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 21/phát triển cơ sở hạ tầng |
| Đề mục | : | 68.99 Các vấn đề khác của nông nghiệp và lâm nghiệp |
| Từ khoá | : | Trường Xuân ; Thanh Hoá |
| Nội dung: | ||
|
Thường Xuân là một huyện miền núi của tỉnh Thanh Hóa, có số dân trên 80 ngàn người, gồm 3 dân tộc chính (Thái 61,3%, Kinh 33,7% và Mường 4,8%). Huyện có 17km biên giới giáp Lào, với địa hình phức tạp, địa bàn rộng 110.506ha. Huyện có 9 trong 17 xã, thị trấn thuộc diện được đầu tư theo chương trình 135. Đường đi từ huyện lỵ lên biên giới dài trên 60km, đi các xã phía tây giáp huyện Như Xuân khoảng trên 70km, chưa kể đến giáp đất Quế Phong (Nghệ An) khoảng 100km.
Khí hậu khắc nghiệt, trình độ dân trí không đồng đều, sản xuất kinh tế gần như thuần nông ghé lâm. Những năm đổi mới, nhất là gần đây, Thường Xuân đã có chuyển biến mạnh và vững bền về nhiều mặt. Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên thuộc huyện Thường xuân có một trung tâm điều hành ở xã Xuân Cẩm và 5 trạm nhỏ ở rải rác. Tổng số 30 cán bộ quản lý gần 28.000 ha rừng đặc dụng trên địa bàn 6 xã Bát Mọt, Yên Nhân, Xuân Khao, Xuân Mỹ, Xuân Liên và toàn bộ đất Vạn Xuân. Đây là khu rừng bảo tồn thiên nhiên thuộc rừng nhiệt đới có tính đa dạng sinh học cao, với 7.252 loại thực vật cao, trong đó có 38 loài được ghi trong sách đỏ, có thảm thực vật rừng rộng lớn, có rừng pơ mu phát triển tốt ở độ cao 900m trở lên. rừng có nhiều loại gỗ quý như sén, táu, vàng tâm, dổi, lim… Về động vật có hơn 20 loài (ghi trong sách đỏ) như vượn đen má trắng, voọc xám, bò tót, gấu và có ghi lại dấu vết của loài mang rousevèll, có 136 loài chim, 45 loài ếch nhái. Tốc định tăng trưởng kinh tế 9 tháng đầu năm đạt 7,8%, tăng 1,35% so với cùng kỳ năm 2003. Đã trồng được 1.175ha rừng tập trung, đạt 72,5% kế hoạch năm; trồng cây phân tán các loại được 368.000 cây. Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 22.167 tấn. Tổng đàn trâu bò 22.200 con, đàn lợn 27.500 con, gia cầm duy trì 300.000 con. Các loại thực phẩm hoa màu, rau, cá đến thời điểm này, Thường Xuân đã tự cung tự cấp được một phần. Phần lớn còn lại do các dịch vụ thương mại cung ứng. Như vậy là so với trước đây, đã có nhiều cố gắng. Năm học 2003-2004 học sinh tốt nghiệp tiểu học đạt 100%, học sinh trung học đạt 96,39%, bổ túc THPT 99,8%, trung học phổ thông 96,3%. Có 8 trường tiên tiến cấp tỉnh. Thường Xuân có 4 trạm "thu phát lại" truyền hình nên số dân xem ti vi đạt 80% và nghe sóng đài phát thanh đạt 95%. Từ năm 2001 đến 2004, Thường Xuân được Nhà nước đầu tư xây dựng 30 công trình 135, gồm 7 công trình giao thông, 12 trường học, 10 công trình thủy lợi, 1 công trình điện hạ thế… Hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ ban đầu rất được chú trọng, đặc biệt ở các xã thuộc diện vùng cao, vùng sâu, xa. Việc xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm cho người lao động có chuyển biến khả quan. Năm 2004 giảm được 5% hộ đói nghèo trong huyện. Hoàn thành đề án hành chính một nửa. Từ quý 2 năm 2004, Huyện ủy và UBND đã tổ chức thành công bầu cử HĐND các cấp, cử tri đi bỏ phiếu đông đủ, đạt tỷ lệ 99,7%. Hoàn thành chỉ tiêu giao quân tuyển lao động quốc phòng năm 2004. Tổ chức tập huấn, huấn luyện vũ trang, sẵn sàng bảo vệ tổ quốc. Tình hình an ninh chính trị và ATXH khu vực biên giới cũng như toàn địa bàn huyện luônhân dân ổn định, bền vững. Điều đáng mừng là Thường Xuân xây dựng được một số trung tâm cụm xã, từ đó phát triển nhiều hướng đi mới trong kinh tế, đồng thời đảm bảo an ninh quốc phòng và an toàn xã hội. Nguồn: TC Dân tộc & Thời đại, Số Tết ất Dậu, tr. 47 |
||
