Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2005 » Số 20 » I. Đường lối, chính sách » Giải pháp phát triển xuất khẩu thủy sản miền Trung

Giải pháp phát triển xuất khẩu thủy sản miền Trung

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 20/I. Đường lối, chính sách
Đề mục : 70.01 Các vấn đề chung
69 Thuỷ sản
Từ khoá : Thủy sản Miền Trung Giải pháp Phát triển Xuất khẩu
Nội dung:
Với các lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên biển và nguồn nhân lực, thủy sản là một thế mạnh góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh miền Trung (chiếm khoảng 7% giá trị tổng sản phẩm và trên 22% tổng kim ngạch xuất khẩu). Các lợi thế này đã có những tác động tích cực đến việc nâng cao khả năng cạnh tranh, góp phần đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của khu vực trong thời gian qua.
Vì vậy, để phát huy những lợi thế của ngành trong đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản miền Trung cần có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và chất lượng của các yếu tố trê. Những giải pháp được đề ra dựa trên quan điểm chủ đạo về phát triển xuất khẩu thủy sản miền Trung thời kỳ 2001 - 2010: lấy xuất khẩu thủy sản làm mũi nhọn trong phát triển kinh tế thuỷ sản và phát triển xuất khẩu của miền Trung, khai thác tối đa các lợi thế của miền Trung để tham gia tích cực và chủ động vào hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Các giải pháp cơ bản là:
- Nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu hàng thủy sản xuất khẩu theo hướng đa dạng hóa và nâng cao giá trị sản phẩm.
Về chủng loại: phát triển mạnh xuất khẩu các mặt hàng có khả năng cạnh tranh cao của thủy sản miền Trung như tôm, nhuyễn thể chân đầu, cá biển và các loại thủy đặc sản.....
Về dạng chế biến: giảm mạnh xuất khẩu sản phẩm đông lạnh sơ chế (dự kiến năm 2005 chiếm tỷ trọng khoảng 58% giá trị hàng thủy sản xuất khẩu); tăng tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm có giá trị gia tăng (mực sashimi, tôm sú Nobashi, mực sushi, tôm PTO luộc, tẩm bột...); tăng tỷ trọng hàng thủy sản tươi sống như tôm hùm, cá mú, cá ngừ đại dương (năm 2005 ước đạt tỷ trọng khoảng 5% giá trị hàng thủy sản xuất khẩu); thủy sản như hộp cá ngừ, hộp tôm; tăng cường xuất khẩu sản phẩm đóng gói nhỏ bán lẻ ở siêu thị như tôm đông, mực philê, mực sashimi, tôm sú luộc.
- Đổi mới kỹ thuật công nghệ và áp dụng các chương trình quản lý chất lượng quốc tế trong các khâu sản xuất thủy sản xuất khẩu nhằm nâng cao chất lượng hàng thủy sản xuất khẩu.
Đầu tư cho đổi mới và cải tiến công nghệ trong các doanh nghiệp chế biến thủy sản hiện có: cải tiến hệ thống thiết bị cấp đông block hiện có nhằm rút ngắn thời gian cấp đông trong chế biến hàng xuất khẩu sang các thị trường tái chế; đầu tư lắp đặt dây chuyền đông rời IQF để chế biến sản phẩm có giá trị gia tăng, đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu cao cấp (Mỹ, EU, Nhật).
Xây dựng mới các trung tâm chế biến thủy sản lớn của khu vực tại Đà Nẵng và Nha Trang với công nghệ hiện đại, điều kiện sản xuất tiên tiến, gắn với các vùng nguyên liệu tập trung.
Từng bước áp dụng các chương trình quản lý chất lượng theo HACCP trong các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho hàng thủy sản xuất khẩu sang các thị trường lớn.
- Phát triển hoạt động sản xuất giống thủy sản nhằm khai thác lợi thế của miền Trugn là vùng sản xuất giống thủy sản chủ yếu của Việt Nam: phấn đầu đến năm 2005 sản xuất khoảng7.000 triệu con giống tôm.
Xây dựng trung tâm giống hải sản Nha Trang thuộc Trung tâm nghiên cứu thủy sản III với chức năng chọn tạo giống, lưu trữ nuôi dưỡng giống gốc, chuyển giao giống mới, công nghệ mới về giống, thả giống vào thiên nhiên để tái tạo nguồn lợi thủy sản. Hình thành 5 trại giống hải sản cấp 1 (lợ, mặn) ở miền Trung hoạt động như xí nghiệp công ích về giống thủy sản. Khuyến khích xây dựng các trại tôm giống kmini do tư nhân bỏ vốn (khoảng 300 trại, công suất 1 - 5 triệu P15/trại). Xây dựng mới các cơ sở sản xuất giống điệp, ốc hương, trai ngọc, bào ngư... ở Khánh Hòa. Xây dựng 1 đến 2 khu công nghiệp sản xuất giống để quản lý và nâng cao chất lượng giống ở các tỉnh từ Đà Nẵng đến Khánh Hòa.
- Đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản miền Trung
Hình thành các vùng nuôi tôm sú công nghiệp ở hầu hết các tỉnh miền Trung; Phát triển nuôi tôm hùm xuất khẩu ở Bình định, Phú yên, Khánh Hòa, Quảng Bình; Nuôi trên biển các loại cá có giá trị kinh tế cao ở Đà Nẵng, Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hòa, Quảng Bình, Thừa thiên Huế; Phát triển nuôi thủy đặc sản: nhuyễn thể có giá trị xuất khẩu cao; Mở rộng hình thức nuôi tôm trên cát ở các tỉnh ven biển miền Trung nhằm tận dụng vùng đất cát bỏ hoang (khoảng 30.000 ha).
- Nâng cao chất lượng khai thác đánh bắt thủy sản
Chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp đánh bắt hợp lý, giảm các nghề đánh bắt cá con ven bờ; Mở rộng khai thác hải sản xa bờ: hình thành các đội tàu đánh cá biển khơi ở Đà Nẵng, Nha Trang; Phát triển cơ sở hạ tầng và các dịch vụ hậu cần trên biển và trên bờ, bao gồm đầu tư cải tạo nâng cấp các cảng cá hiện đại và xây dựng các tập đoàn đánh cá xa bờ gắn với dịch vụ hậu cần, bao tiêu sản phẩm, bảo quản cấp đông thủy sản trên biển.
- Tăng cường công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý và lao động nghề cá nhằm đáp ứng yêu cầu áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới.
Phát triển hệ thống các trường đại học hiện có, nâng cao trình độ đào tạo và cơ sở vật chất của các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề thủy sản, đáp ứng yêu cầu đào tạo lao động theo những ngành nghề cần chú trọng. Tổ chức đào tạo và nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân ở các doanh nghiệp chế biến thủy sản. Đào tạo nghề phải hướng đến tạo lập được một đội ngũ cán bộ quản lý đầu ngành và công nhân lành nghề có khả năng tiếp thu nhanh khoa học công nghệ tiên tiến. Tổ chức các lớp về pháp luật và đào tạo hướng nghiệp.
- Chú trọng phát triển và bảo vệ nguồn lợi thủy sản của khu vực và cả nước
Tăng cường điều tra nguồn lợi ở các vùng xa bờ và với các loại cá di cư nhằm nắm vững trữ lượng cho phép khai thác, điều kiện môi trường, mùa vụ khai táhc của các ngư trường.., trên cơ sở đó quy định hạn mức cường lực khai thác cho mỗi địa phương, xác định rõ chủng loại, cơ cấu đội tàu và công nghệ khai thác thích hợp cho nghề khơi để tránh hiện tượng đầu tư, khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản; Tiến hành đánh bắt thủy sản theo mùa vụ, đại điểm, loại ngư cụ được quy định cụ thể của từng địa phương; Nghiêm cấm sử dụng các hình thức khai thác có tính hủy diệt như xung điện, đánh mìn, hóa chất độc... Hỗ trợ xây dựng các khu bảo tồn biển, các bãi rạn nhân tạo, lắp đặt các thiết bị dụ cá, tạo các vùng cư trú có tính chiến lược cho các loài giống thủy sản, thả giống một số giống loài ra vùng biển; Cơ cấu lại lực lượng khai thác ven bờ một cách hợp lý, đồng thời chuyển dần sang canh tác trên vùng biển ven bờ: vừa khai thác, vừa nuôi. Xây dựng các quy hoạch chi tiết về các khu vực nuôi trồng thủy sản sinh thái của miền Trung, ban hành và thực hiện các tiêu chuẩn về vùng nuôi an toàn, quy trình nuôi sạch nhằm đảm bảo môi trường nuôi thủy sản bền vững, hạn chế dịch bệnh và sản xuất có hiệu quả.
Thủy sản là một ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam và khu vực miền Trung. Tiềm năng kinh tế biển còn lớn, nguồn lao động thủy sản dồi dào là những lợi thế tĩnh mà xuất khẩu thủy sản miền Trung có khả năng phát huy để ngày càng phát triển, góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội vùng biển, thúc đẩy quá trình hội nhập của miền Trung vào kinh tế khu vực và quốc tế.
Tác giả: TS. Lâm Minh Châu, Đại học Đà Nẵng
Nguồn: TC Kinh tế và phát triển, số 91, 1/2005, tr. 16 - 19.
*******************************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia