Xuất khẩu thủy sản miền trung - Những lợi thế và những giải pháp phát triển |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Nông thôn đổi mới |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 19/Đường lối - Chính sách |
| Đề mục | : |
06.75 Quản lý kinh tế
69 Thuỷ sản |
| Từ khoá | : | Xuất khẩu thủy sản ; Giải pháp ; Phát triển |
| Nội dung: | ||
|
Trong ngành thủy sản Việt Nam, thủy sản Miền Trung (TSMT) đóng một vai trò quan trọng và được đánh giá là khu vực có nhiều tiềm năng. Với những lợi thế về nguồn lợi tự nhiên và nguồn nhân lực. TSMT thời kỳ 1997-2001 đã có sự phát triển khá nhanh. Tuy nhiên, để đẩy mạnh xuất khẩu TSMT tương xứng với khả năng thật sự có thể khai thác được của khu vực, cần có hệ thống các giải pháp đồng bộ nhằm khai thác các lợi thế hiện có của TSMT theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng và chất lượng của các yếu tố tạo nên lợi thế. Những lợi thế của ngành thủy sản miền Trung là những lợi thế có được từ các yếu tố sẵn có về tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động. Những lợi thế này, xét về dài hạn, hạn chế khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững cho xuất khẩu thuỷ sản của Miền Trung. Vì vậy, để phát huy những lợi thế của ngành trong đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản miền Trung cần có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và chất lượng của các yếu tố trên, Những giải pháp được đề ra dựa trên quan điểm chủ đạo về phát triển xuất khẩu thuỷ sản miền Trung thời kỳ 2001-2010: Lấy xuất khẩu thuỷ sản làm mũi nhọn trong phát triển kinh tế thuỷ sản và phát triển xuất khẩu của miền Trung, khai thác tối đa các lợi thế của miền Trung để tham gia tích cực và chủ động vào hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Các giải pháp cơ bản là: Nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu hàng thủy sản xuất khẩu theo hướng đa dạng hoá và nâng cao giá trị sản phẩm Về chủng loại: Phát triển mạmh xuất khẩu các mặt hàng có khả năng cạnh tranh cao của thủy sản miền Trung như tôm, nhuyễn thể chân đầu, cá biển và các loại thủy sản.... Về dạng chế biến: giảm mạnh xuất khẩu sản phẩm đông lạnh sơ chế (dự kiến năm 2005 chiếm tỷ trọng khoảng 58% giá trị hàng thuỷ snả xuất khẩu); Tăng tỷ trọn xuất khẩu các sản phẩm có giá trị tăng (mực Sashimi, tôm sú Nobashi, mực Sushi, tôm PTO luộc, tẩm bột...) Tăng tỷ trọng hàng thuỷ sản tươi sống như tôm hùm, cá mú, cá ngừ đại dương (năm 2005 ướt đạt tỷ trọng khoảng 5% giá trị hàng thuỷ sản xuất khẩu); Bước đầu xuất khẩu một số mặt hàng đồ hộp thủy sản như hộp cá ngừ, hộp tôm; Tăng cường xuất khẩu sản phẩm đóng gói nhỏ bán lẻ ở siêu thị như tôm mực philê, mực Sashimi, tôm sú luộc. Đổi mới kỹ thuật công nghệ và áp dụng các chương trình quản lý chất lượng quốc tế trong các khâu sản xuất thuỷ sản xuất khẩu nhằm nâng cao chất lượng hàng thuỷ sản xuất khẩu Đầu tư cho đổi mới và cải tiến công nghệ trong các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản hiện có: Cải tiến hệ thống thiết bị cấp đông block hiện có nhằm rút ngắn thời gian cấp đông trong chế biến hàng xuất khẩu sang các thị trường tái chế (Singapor, Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc); Đầu tư lắp đặt dây chuyền đông rời IQF để chế biến sản phẩm có giá trị gia tăng, đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu cao cấp (Mỹ, EU, Nhật). Xây dựng mới các trung tâm chế biến thuỷ sản lớn của khu vực tại Đà Nẵng và Nha Trang với công nghệ hiện đại, điều kiện sản xuất tiên tiến, gắn với các vùng nguyên liệu tập trung. Từng bước áp dụng các chương trình quản lý chất lượng theo HACCP trong các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho hàng thuỷ sản xuất khẩu sang các thị trường lớn (EU, Bắc Mỹ, Nhật). Phát triển hoạt động sản xuất giống thủy sản nhằm khai thác lợi thế của miền Trung là vùng sản xuất giống thủy sản chủ yếu của Việt Nam: phấn đấu đến năm 2005 sản xuất khoảng 7.000 triệu con tôm giống. Xây dựng trung tâm giống hải sản Nha Trang thuộc Trung tâm nghiên cứu thủy sản III với chức năng chọn tạo giống, lưu trữ nuôi dưỡng giống gốc, chuyển giao giống mới, công nghệ mới về giống, thả giống vào thiên nhiên để tái tạo nguồn lợi thuỷ sản. Hình thành 5 trại giống hải sản cấp 1 (Lợ, mặn) ở miền Trung hoạt động như xí nghiệp công ích về giống thủy sản. Khuyến khích xây dựng các trại tôm giống mini do tư nhân bỏ vốn. Xây dựng mới các cơ sở sản xuất giống điệp, ốc hương, trai ngọc, bào ngư... ở Khánh Hoà. Đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản miền Trung Hình thành các vùng nuôi tôm sú công nghiệp ở hầu hết các tỉnh miền Trung; Phát triển nuôi tôm hùm xuất khẩu ở Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Quảng Bình; Nuôi trên biển các loại cá có giá trị kinh tế cao (cá cam, mú, song...) ở Đà Nẵng, Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hoà, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế; Phát triển nuôi thủy đặc sản: nhuyễn thể có giá trị xuất khẩu cao (ốc hương, bào ngư, trai ngọc), rong câu; Mở rộng hình thức nuôi tôm trên cát ở các tỉnh ven biển miền Trung nhằm tận dụng vùng đất cát bỏ hoang. Nâng cao chất lượng khai thác đánh bắt thuỷ sản. Chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp đánh bắt hợp lý, giảm các nghề đánh bắt cá con ven bờ; Mở rộng khai thác hải sản xa bờ: hình thành các đội tàu đánh cá biển khơi ở Đà Nẵng, Nha Trang; Phát triển cơ sở hạ tầng và các dịch vụ hậu cần trên biển và trên bờ: đầu tư cải tạo nâng cấp các cảng cá hiện đại ở Cửa Hội, Đà Nẵng, Nha Trang và các tuyến đảo; xây dựng các tập đoàn đánh cá xa bờ gắn với dịch vụ hậu cần, bao tiêu sản phẩm, bảo quản cấp đông thủy sản trên biển. Tăng cường công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý và lao động nghề cá nhằm đáp ứng yêu cầu áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới. Phát triển hệ thống các trường đại học hiện có, nâng cao trình độ đào tạo và cơ sở vật chất của các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề thủy sản, đáp ứng yêu cầu đào tạo lao động theo những ngành nghề cần chú trọng: quản lý nghề cá, chế biến thuỷ sản, nuôi trồng thuỷ sản, kinh tế thuỷ sản... Tổ chức đào tạo và nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân ở các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản: mời chuyên gia huấn luyện kỹ thuật, tổ chức ham quan, hội thảo kỹ thuật, hội thi nâng bậc.... Đào tạo nghề phải hướng đến tạo lập được đội ngũ cán bộ quản lý đầu ngành và công nhân lành nghề có khả năng tiếp thu nhanh khoa học công nghệ tiến tiến. Tổ chức các lớp học về pháp luật và đào tạo hướng nghiệp cho ngư dân. Chú trọng phát triển và bảo vệ nguồn lợi thủy sản của khu vực và cả nước. Tăng cường điều tra nguồn lợi ở các vùng xa bờ và với các loại cá di cư nhằm nắm vững trữ lượng cho phép khai thác, điều kiện môi trường, mùa vụ khai thác của các ngư trường..., trên cơ sở đó quy định hạn mức cường lực khai thác cho mỗi địa phương, xác định rõ chủng loại, cơ cấu của đội tàu và công nghệ khai thác thích hợp cho nghề khơi để tránh hiện tượng đầu tư, khai thác quá mức nguồn lợi thuỷ sản; Tiến hành đánh bắt thủy sản theo mùa vụ, địa điểm, loại ngư cụ được qui định cụ thể của từng địa phương; Nghiêm cấm sử dụng các hình thức khai thác có tính huỷ diệt như xung điện, đánh mìn, hoá chất độc... Hỗ trợ xây dựng các khu bảo tồn biển, các bãi rạn nhân tạo, lắp đặt các thiết bị dụ cá, tạo các vùng cư trú có tính chiến lược cho các loài giống thủy sản, thả giống một số giống loài ra vùng biển; Cơ cấu lại lực lượng khai thác ven bờ: vừa khai thác, vừa nuôi, nuôi để khai thác; Xây dựng các quy hoạch chi tiết về các khu vực nuôi trồng thủy sản sinh thái của miền Trung, ban hành và thực hiện các tiêu chuẩn về vùng nuôi an toàn, quy định nuôi sạch nhằm đảm bảo môi trường nuôi thủy sản bền vững, hạn chế dịch bệnh và sản xuất có hiệu quả. Thuỷ sản là một ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam và khu vực miền Trung. Tiềm năng kinh tế biển còn lớn, nguồn lao động thủy sản dồi dào là những lợi thế tĩnh mà xuất khẩu thuỷ snả miền Trung có khả năng phát huy để ngày càng phát triển, góp phần ổn định và phát triển kinh tế xã hội vùng biển, thúc đẩy quá trình hội nhập của miền Trung vào kinh tế khu vực và quốc tế. Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Số 12/2004; tr 16-18. ************************** |
||
