Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2005 » Số 15 » IV. Phát triển cơ sở hạ tầng: » Xuân mới trên miền đất Phên Dậu của Tổ Quốc

Xuân mới trên miền đất Phên Dậu của Tổ Quốc

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 15/IV. Phát triển cơ sở hạ tầng:
Đề mục : 06.61 Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ. Kinh tế theo vùng
Từ khoá : Nông thôn Phát triển
Nội dung:
Trở lại Cao Bằng trong những ngày đầu năm 2005, chúng tôi thật sự bất ngờ trước những đổi thay toàn diện, từ cơ sở hạ tầng cho đến những cách thức, mô hình làm ăn mới và cả những làng bản định cư yên vui, no ấm. Anh Nông văn Páo, Phó Chủ tịch UBND Tỉnh vui vẻ cho biết: năm 2004, Cao Bằng vẫn giữ nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao trên 10%, tổng sản lượng lương thực đạt hơn 190.000 tấn, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 5%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 9,8%, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt gần 60 triệu USD, thu nhập đầu người đạt 305 USD/người, tỷ lệ đói nghèo đã giảm xuống dưới 11%, thu ngân sách đạt hơn 180 tỷ đồng, bằng 112,8% dự toán Trung ương giao...
Để đạt được kết quả đó, Cao Bằng đã tập trung vào đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông, lâm nghiệp, thực hiện khuyến nông, khuyến lâm tận làng bản. Ngoài việc đưa các giống lúa, giống ngô mới vào thâm canh, Tỉnh chủ trương tận dụng lợi thế đất chăn thả rộng, phát triển chăn nuôi, nâng tổng đàn gia súc lên hơn 200.000 con, tăng hơn 2% so với năm 2003. Được sự giúp đỡ có hiệu quả của bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các tổ chức quốc tế, Cao Bằng đã xây dựng được 13 dự án phát triển nông, lâm nghiệp trọng điểm, tạo bước chuyển mới trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, thay đổi tập quán sản xuất cũ... Hiện Tỉnh đã hình thành các vùng chuyên canh lúa cao sản, cây công nghiệp ở Hòa An, Phục Hòa; vùng nguyên liệu giấy, cây đặc sản ở Nguyên Bình, Thạch An, Trùng Khánh; vùng phát triển chăn nuôi gia súc ở Bảo Lạc, Bảo Lâm, tạo tiền đề cho việc hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, nâng cao giá trị trên mỗi ha đất canh tác.
Là tỉnh giàu tiềm năng khoáng sản, thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp khai khoáng, công nghiệp Cao Bằng đang được xác định là động lực chính để đưa Tỉnh thoát nhanh khỏi vị trí nghèo nhất cả nước. Hàng loạt các dự án công nghiệp trọng điểm như: Nhà máy thủy điện Nà Lòa, Nhà máy chế biến thức ăn gia súc, Lò luyện gang số 2, Mỏ sắt Nà Rụa... đã được triển khai và bước đầu cho ra sản phẩm.
Điểm nổi bật trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở Cao Bằng trong năm qua là việc tập trung các nguồn lực để thực hiện có hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo. Dưới sự trợ giúp có hiệu quả của Nhà nước, chương trình xoá đói giảm nghèo được lồng ghép với hàng loạt các chương trình phát triển kinh tế xã hội khác như: chương trình 135, Dự án tín dụng cho hộ nghèo, Dự án ổn định dân cư và xây dựng vùng kinh tế mới, Dự án hướng dẫn người nghèo cách làm ăn... Qua đó, Tỉnh đã huy động được trên 278 tỷ đồng giúp các hộ nghèo, xã nghèo có vốn phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập. Từ nguồn vốn này, năm qua số hộ nghèo đã giảm thêm 2,58%, tương đương hơn 2.700 hộ và 9.200 nhân khẩu thoát nghèo, trên 7.600 lao động có việc làm mới, tỷ lệ sử dụng lao động ở nông thôn tăng lên gần 80%.
Một yếu tố quan trọng góp phần không nhỏ tạo nên sự phát triển mạnh mẽ của Cao Bằng trong năm qua, đó là việc quản lý chặt chẽ các nguồn thu, chi đầu tư phát triển. Việc tạo nguồn thu, nhất là các khoản thu nội địa, thuế xuất nhập khẩu được thực hiện đồng bộ với cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại đầu tư, bảo đảm hàng hóa thông quan nhanh chóng, thực hiện linh hoạt các biện pháp tận thu cho ngân sách. Trong chi ngân sách địa phương năm qua, Cao Bằng đã thực hiện đổi mới cơ chế quản lý tài chính theo nguyên tắc thực hiện phân cấp, tăng tính chủ động, quyền hạn và trách nhiệm đối với các cấp, các ngành trong quản lý sử dụng ngân sách. Đối với nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản, ngoài việc quản lý chặt chẽ, Tỉnh kiên quyết khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, ưu tiên vốn cho các công trình trọng điểm phục vụ trực tiếp quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tạo việc làm và thu nhập cho địa phương.
Đi đôi với phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội trên miền đất gian khó này cũng có sự chuyển biến tích cực. Cao Bằng đã được công nhận phổ cập tiểu học đúng độ tuổi. Riêng trong năm 2004, toàn tỉnh có thêm 22 xã đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng đã giảm thêm 2%, hơn 57% dân số nông thôn có nước sinh hoạt hợp vệ sinh sử dụng. Hệ thống trường trạm đã cơ bản được kiên cố hóa. Tình trạng di dân tự do đã được hạn chế đáng kể, trên 400 làng bản có nhà văn hóa phục vụ sinh hoạt cộng đồng, 740 thôn bản được công nhận làng bản văn hóa...
Bước sang Xuân mới, miền đất Cao bằng còn có thêm nhiều niềm vui mới khi Quốc hội chính thức phê chuẩn chọn Cao Bằng làm điểm đầu con đường Hồ Chí Minh, dự án nâng cấp cải tạo quốc lộ 3 nối Cao Bằng - Hà Nội, quốc lộ 4A Cao Bằng - Lạng Sơn với số vốn đầu tư hàng nghìn tỷ đồng sắp sửa hoàn thành... Các dự án phát triển du lịch thác Bản Giốc, động Ngườm Ngao, khu di tích Pác Bó, rừng Trần Hưng Đạo... đã được khởi động. Năm Ất Dậu - năm cuối thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2001 - 2005, Cao Bằng khẩn trương hoàn thiện chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế xây dựng cơ sở chế biến và tiêu thụ nông sản, thu hút vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng cường xúc tiến đầu tư tháo gỡ rào cản thu hút nguồn khách du lịch từ Trung Quốc, phát triển kinh tế cửa khẩu... Đó chính là những cơ hội phát triển mới để Cao Bằng tăng tốc thoát khỏi khu vực một trong 6 tỉnh nghèo nhất cả nước, cho mỗi mùa xuân mới thêm vui.
Tác giả: Hoàng Thảo Nguyên.
Nguồn: TC Tài chính, tháng 1/2005, tr. 44 - 45.
********************************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia