Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

Gía cả một số mặt hàng nông sản trong và ngoài nước

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 15/III. Kỹ thuật và công nghệ bảo quản - chế biến - tiêu thụ:
Đề mục : 72.99 Các vấn đề khác của ngoại thương
71.99 Các vấn đề khác của nội thương và du lịch
Từ khoá : Giá cả Nội thương Ngoại thương Nông sản
Nội dung:
1. Giá gạo:
Tuần qua, trên thị trường quốc tế, gạo xuất khẩu loại 5% tấm và 25% tấm của Việt Nam được chào bán với giá 240 - 242 USD/tấn và 230 - 233 USD/tấn. Giá gạo Thái xuất khẩu 100% loại B, 5% tấm và gạo đồ loại 100% vững ở mức 280 - 282 USD/tấn, 275 - 280 USD/tấn và 289 - 292 USD/tấn. Trong nước, tại các tỉnh phía Bắc giá lúa gạo tăng 100 - 200 đ/kg, lúa thường lên 2.500 - 2.700 đ/kg, giá gạo 3.900 - 4.300 đ/kg (gạo thường), 4.800 - 5.600 đ/kg (gạo ngon). Tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa ở các tỉnh tăng 100 - 200 đ/kg lên phổ biến 2.200 - 2.300 đ/kg, giá gạo tăng 100 - 150 đ/kg lên phổ biến 3.300 - 3.600 đ/kg (Cần Thơ 3.600 đ, Trà Vinh 3.500 đ, Tiền Giang, Đồng Tháp 3.300 đ).
2. Giá thịt lợn:
Tại các tỉnh miền Bắc giá thịt lợn đứng ở mức tuần trước, lợn hơi phổ biến 15.000 - 16.00 đ/kg, giá thịt mông sấn 28.000 - 30.000 đ, tại thành phố lớn và khu công nghiệp dao động từ 33.000 - 35.000 đ/kg. Còn tại các tỉnh phía Nam giá tiếp tục tăng: tại Nha Trang thịt hơi tăng 1.500 đ/kg lên 18.000 đ, thịt đùi tăng 2.000 đ/kg lên 32.000 - 33.000 đ/kg, tại Biên Hòa tăng cao nhất 1.000 đ/kg lên 19.000 đ/kg, heo trại siêu nạc lên 20.500 đ/kg, heo đùi lên 32.000 đ/kg tăng 1000 đ/kg; ở Đồng Tháp lên 17.000 đ/kg tăng 1.000 đ/kg.
3. Giá các loại thực phẩm khác:
Tại các tỉnh phía Bắc, giá một số loại thực phẩm tươi sống như thịt gà, cá tăng 10 - 15%, tại Hà Nội: gà hơi (gà ta) 37.000 - 38.000 đ/kg tăng 1.000 - 2.000 đ, gà công nghiệp làm sẵn 26.000 - 27.000 đ/kg, giá thịt bò 65.000 - 70.000 đ/kg; tại các tỉnh phía Nam giá một số loại thực phẩm tiếp tục tăng: tại thành phố Hồ Chí Minh: giá gà công nghiệp 30.000 đ/kg, gà ta tăng lên 70.000 đ/kg, tại chợ Tân Xuân (thành phố Hồ Chí Minh) giá nhiều loại rau xanh tăng: xà lách búp 3.000 đ/kg, xà lách lụa 2.500 đ/kg, khổ qua 3.200 đ/kg, bông cải 4.200 đ/kg, su hào 2.200 đ/kg, chỉ có một vài loại rau như bắp cải, cải thảo giảm còn 1.200 và 1.700 đ/kg, giá nhiều loại trái cây tăng 500 - 1.000 đ/kg (quýt đường 9.000 đ/kg, hồng xiêm 5.000 đ/kg, nho Phan rang 5.500 đ/kg, riêng giá vú sữa tiếp tục giảm xuống mức thấp còn 11.000 - 12.000 đ/kg). Tại Cần Thơ giá tôm càng loại 1 giảm 10.000 đ xuống còn 140.000 đ/kg, tôm khô tăng 19.000 đ/kg lên 250.000 đ/kg. Tại An Giang giá mua các loại cá tra tăng 200 - 5000 đ/kg, cá tra nuôi bè lên 11.500 đ/kg, cá nuôi hầm thịt trắng lên 12.000 đ/kg, thịt vàng lên 10.200 đ/kg.
4. Giá cà phê:
Trên thị trường thế giới, từ cuối tháng 12 trên một số thị trường giá cà phê đã chững lại và giảm. Giá cà phê chè (Arabica) giao tháng 3/2005 tại Niu Yóoc tăng lên 107,35 xu Mỹ/pound (1 pound = 0,454 kg) trong khi giá cà phê vối (Robusta) giao cùng kỳ hạn tại Luân Đôn lại giảm xuống 753 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá chào bán cà phê xuất khẩu trong tháng 12 tăng khá mặng (tăng 60 - 70 USD/tấn so với tháng 11), giá chào bán cà phê Robusta 5% đen vỡ đã tăng lên 600 - 610 USD/tấn vào cuối tháng 11 và tiếp tục tăng lên mức cao mới đạt 670 USD/tấn vào cuối tháng 12). Giá mua cà phê trong nước tại các tỉnh tăng 800 - 1.000 đ/kg so với tháng trước (Lâm Đồng 10.300 - 10.500 đ/kg, Đồng Nai 10.500 đ/kg, Đắc Lắc 9.500 - 10.000 đ/kg).
5. Giá đường và thực phẩm công nghệ:
Trên thị trường quốc tế, đường trắng giao tháng 3/2005 tại Luân Đôn giảm xuống 244,8 USD/tấn và đường thô giao cùng kỳ hạn tại Niu Yóoc giảm còn 8,86 xu Mỹ/pound. Trong nước, tuần qua, giá đường chững lại và giảm nhẹ, đường RE ở các tỉnh phổ biến 6.000 - 6.500 đ/kg, tại chợ đầu mối thành phố Hồ Chí Minh: giá bán buôn một số loại đường tiếp tục giảm, đường RE Juna giảm 100 đ/kg còn 5.600 - 5.800 đ/kg, RS Quảng Ngãi giảm 50 đ/kg còn 5350 đ/kg, đường kết tinh vàng còn 5.500 - 5.600 đ/kg. Giá các mặt hàng công nghệ khác như bánh, kẹo, bia nước ngọt ổn định, lượng hàng bán ra trong tháng tăng do nhu cầu tiêu dùng vào ngày lễ giáng sinh và chuẩn bị lực lượng cho Tết âm lịch, riêng bia lon 333 ở thành phố Hồ Chí Minh tăng thêm 3.000 đ/thùng lên 159.000 đ/thùng.
6. Giá phân bón và vật tư nông nghiệp:
Do giá phân thế giới giảm, lượng phân nhập khẩu trước đó nhiều, cùng với lượng phân sản xuất trong nước tăng, lượng phân bón phục vụ cho vụ Đông xuân đã lên mức trên 1 triệu tấn, trong khi lượng tiêu thụ phân bón vào thời điểm này đã và đang chậm lại, đã cảnh báo xuất hiện hiện tượng ứ đọng hàng. Giá phân bón tiếp tục giảm, hiện phân urê ở địa phương còn phổ biến 4.200 - 4.300 đ/kg giảm 100 - 200 đ/kg so với tháng trước, phân DAP dao động ở mức 4.900 - 5.200 đ/kg.
Tác giả: Trung tâm Thông tin Thương mại, Bộ Thương mại.
Nguồn: TC Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, số 2/2005, tr. 8.
**********************************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia