Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

Giá cả thị trường

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 14/Bảo quản - Chế biến - Tiêu thụ
Đề mục : 06 Kinh tế. Khoa học kinh tế
Từ khoá : Giá cả thị trường
Nội dung:
Giá cả thị trường
Thị trường hàng hóa trong nước ngày 30/3/2005
Giá mía, đường tăng
Giá mía đang tăng mạnh trong phạm vi cả nước. Tại miền Bắc, các doanh nghiệp đang thu mua mía 10 chữ đường ở mức từ 260.000 đến 300.000 đồng/tấn; miền Trung và Tây Nguyên từ 350.000 đến 375.000 đồng/tấn; Nam Trung bộ từ 280.000 đến 310.000 đồng/tấn; Đồng bằng Sông Cửu Long từ 370.000 đến 430.000 đồng/tấn. Riêng Sóc Trăng, giá mía lên tới 470.000 đồng/tấn.
Để hạn chế việc các doanh nghiệp đẩy giá thu mua mía tăng quá cao, Hiệp hội Mía Đường đã khuyến cáo các doanh nghiệp thu mua mía 10 chữ đường tại ruộng là 280.000 đến 300.000 đồng/tấn, cao hơn cùng kỳ năm trước 100.000 đồng/tấn. Cũng vì giá mía nguyên liệu tăng cao nên các nhà máy cũng tăng giá bán đường. Hiện giá bán buôn 1kg đường kính trắng tại các nhà máy phổ biến từ 6.100 đến 6.600 đồng. Tại Hà Nội, giá 1kg đường kính trắng bán tại các trung tâm bán buôn (có VAT) từ 6.300 đến 6.600 đồng và đường tinh luyện là 6.500 đến 6.700 đồng. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, giá bán 1kg đường kính trắng từ 6.500 đến 6.700 đồng và đường tinh luyện từ 6.900 đến 7.000 đồng (đường tinh luyện). Giá bán lẻ đường RE Bourbon gói 1 kg là 8.000 đồng.
Như vậy, 3 tháng đầu năm nay, giá đường đã tăng từ 400 đến 500 đồng/kg và so với cùng kỳ năm 2004 giá đường tăng từ 800 đến 1.000 đồng/kg. Các chuyên gia thương mại dự báo, giá đường trong tháng 4/05 có thể sẽ tiếp tục tăng.
Giới đầu cơ đẩy giá cà phê tăng cao
Mặc dù giá cà phê trên thị trường thế giới giảm nhẹ nhưng giá cà phê tại thị trường trong nước tuần qua tiếp tục duy trì ở mức cao.
Nguyên nhân chính là do hoạt động thu mua cà phê trong nước hiện nay gặp rất nhiều khó khăn, lượng cà phê trong dân còn rất ít do thời gian trước giới đầu cơ đã thu mua gần hết của nông dân. Thêm vào đó là thông tin về thời tiết tiếp tục diễn biến không thuận lợi, hạn hán có thể sẽ kéo dài đã đẩy giá cà phê lên cao. Tại Đồng Nai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, giá cà phê tuần qua phổ biến từ 15.300 đến 15.500 đồng/kg (loại 1), 14.000 đến 14.5000 đồng/kg (loại xô). Nhìn chung, từ đầu năm đến giá cà phê trong nước đã tăng khoảng 5.000 đồng/kg so với năm ngoái.
Giá thóc gạo giảm từ 100 đến 200 đồng/kg
Tại các tỉnh phía Bắc, giá thóc gạo có xu hướng giảm từ 100 đến 200 đồng/kg so với tuần trước, hiện đứng ở mức 2.400 đến 2.500 đồng/kg.
Tại Lào Cai, giá thóc tẻ thường ở mức 2.600 đến 2.700 đồng/kg, gạo tẻ thường ở mức 4.400 đến 4.500 đồng/kg.
ở các tỉnh vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), giá thóc giảm từ 20 đến 30 đồng/kg. Giá gạo nguyên liệu vẫn vững ở mức như tuần trước, giá gạo nguyên liệu loại 1 3.050 đồng/kg, gạo nguyên liệu loại 2 là 3.000 đồng/kg. Giá gạo thành phẩm xuất khẩu 5% tấm ở mức 3.730 đồng/kg, gạo 10% tấm ở mức 3.680 đồng/kg (-10). Tại Cần Thơ, giá thóc tẻ thường giảm tiếp 30 đồng/kg, đứng ở mức 2.230 đến 2.270 đồng/kg. Gạo nguyên liệu thành phẩm giảm từ 20 đến 50 đồng/kg, gạo lức mới còn 2.950 đến 3.000 đồng/kg, thành phẩm 10% tấm còn 3.450 đến 3.500 đồng/kg (-50), 20% tấm là 3.300 đến 3.400 đồng/kg (-100).
Miền Trung: dưa hấu sụt giá thê thảm
Tại các tỉnh miền Trung, giá dưa hấu sụt thê thảm. Hiện giá bán một kg dưa hấu loại ngon để xuất khẩu chỉ còn 600 đồng/kg, nhưng dưa phải đạt từ 5 kg trở lên, còn dưới 5 kg thì chỉ bán tháo bán đổ, với giá 500 đến 1.500 đồng/trái (tùy theo to hay nhỏ).
Theo ông Trần Văn Tranh, một chủ vựa dưa ở Tam Nghĩa (Quảng Nam), sở dĩ năm nay dưa mất giá là do bên Trung Quốc tiêu thụ ít. Ông Thanh cũng đã chở sang Trung Quốc 2 chuyến nhưng phải chở về 1 chuyến, vì bán không hết. Tại hai xã Tam Nghĩa (Quảng Nam) và Bình Khương (Quảng Ngãi) những cánh đồng đã đến thời kỳ thu hoạch, dưa chín đỏ mà không có người mua nên đành để dưa chín thối rữa. Dọc trên Quốc lộ 1 A, từ địa phận Quảng Nam đến Quảng Ngãi có đến hàng ngàn điểm bán dưa nhưng rất vắng người mua.
TP Hồ Chí Minh: Giá thực phẩm vẫn ở mức cao
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, giá thịt lợn ở các chợ vẫn đứng mức rất cao. Tại chợ Phạm Văn Hai (Quận Tân Bình), lợn hơi có giá từ 20.000 đồng - 21.000 đồng/kg, chỉ thấp hơn dịp Tết Nguyên đán khoảng 1.000 đồng/kg; thịt lợn nạc giá 43.000 đồng/kg, thịt đùi giá 37.000 đồng/kg, thịt ba rọi giá 32.000 đồng/kg.
Tương tự, giá thủy sản cũng tăng mạnh. Ban quản lý chợ đầu mối thủy sản Chánh Hưng (Quận 8) cho biết, so với tuần trước lượng cá về chợ giảm khoảng 70 tấn/ngày, hiện đứng ở mức khoảng 220 tấn cá/ngày nên giá tăng khá mạnh. Cụ thể, giá 1kg cá thu đứng ở mức giá 45.000 đồng, tăng 5.000 đồng, cá bạc má 16.000 - 22.000 đồng, tăng 3.000 - 5.000 đồng, cá nục từ 12.000 - 15.000 đồng, cá ngân 16.000 - 19.000 đồng, tăng 3.000 đồng, cá thác lác 30.000 - 33.000 đồng, tăng 2.000 đồng so với tuần trước.
Giá tôm còn tăng mạnh hơn. Giá 1kg tôm sú loại lớn đứng ở mức 80.000 - 95.000 đồng, tăng 10.000 đồng, mực ống lớn 55.000 - 60.000 đồng tăng 10.000 đồng... Đặc biệt, trong những ngày qua lượng cá nục và cá thu của Đài Loan đã về chợ với số lượng đáng kể. Hai loại cá này đang rất được ưa chuộng do giá bán rẻ hơn so với cá cùng loại trong nước. Giá 1kg cá thu Đài Loan từ 16.000đ - 28.000 đồng trong khi cá thu Việt Nam giá tới 45.000 đồng, cá nục Đài Loan rất to (khoảng 4 con/kg) nhưng giá chỉ 12.000 - 14.000 đồng trong khi cá nục con nhỏ hơn giá 13.000 - 15.000 đồng. Về chất lượng thì thịt cá nục và cá thu của Đài Loan cũng ngon không kém thịt cá nục và cá thu của Việt Nam nên được nhiều khách hàng tìm mua.
Nguồn: Theo tin Thông tấn xã Việt Nam ra ngay 30 tháng 3 năm 2005.
**************************
Diễn biến thị trường cà phê trong nước và xuất khẩu tuần từ 25-31/3/05
Mặc dù giá cà phê trên thị trường thế giới có chiều hướng giảm nhẹ, nhưng giá cà phê tại thị trường trong nước tuần qua vẫn đứng ở mức cao. Hoạt động thu mua trong nước hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn, lượng cà phê trong dân còn rất ít do thời gian trước giới đầu cơ đã thu mua gần hết, cộng với thông tin thời tiết không thuận lợi là những nguyên do chính đẩy giá cà phê lên cao.
Tại Đồng Nai, Đắc Lắc, Lâm Đồng, giá cà phê tuần qua phổ biến ở mức 14.500-15.200đ/kg (loại 1); 13.500-14.000đ/kg (loại xô). Nhìn chung giá cà phê đã tăng khoảng 5000đ/kg so với đầu năm. Giá chào bán cà phê xuất khẩu còn 820- 850USD/tấn, FOB( loại 2), giảm 30-50 USD/tấn so với cuối tuần trước.
Dự báo: Thị trường cà phê trong ngắn hạn có thể bình ổn trở lại khi giá cà phê thế giới đã có dấu hiệu giảm, tác động lên tâm lý của các nhà đầu cơ trước sức ép bán ra để thu lợi khi giá cà phê đang ở mức cao. Tuy nhiên, về lâu dài, giá cà phê có thể tiếp tục tăng bởi hạn hán tại một số nước sản xuất cà phê lớn, nhất là Việt Nam vẫn chưa được cải thiện làm suy giảm nghiêm trọng nguồn cung.
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 1 tháng 4 năm 2005.
***************************
Giá một số vật tư nông nghiệp trên thị trường Tp Buôn Mê Thuột ngày 30/03/2005
Tên mặt hàng ĐV tính Nguồn cung Giá bán buôn Giá bán lẻ
1. Phân bón
- Phân đạm urê (Trung Quốc) đ/kg Miền Bắc 4200 4300
- Phân đạm sunphát (Phú Mỹ) đ/kg Tp HCM 4000 4100
- Phân lân (Văn Điển) đ/kg Miền Bắc 1020 1120
- Phân kali (Nga) đ/kg Tp HCM 3450 3550
- Phân NPK (Việt Nhật) đ/kg Tp HCM 3920 4020
- Phân NPK (Đầu trâu) 3570 3670
2. Thuốc bảo vệ thực vật
2.1 Thuốc trừ sâu Cty Dịch vụ Thuốc trừ sâu Sài Gòn bán tại Đắk Lắk
BI58 40ND Chai 480ml 21.000 22.000
Bassan 50ND Chai 480ml 17.000 18.500
Thiodan Chai 480ml 45.000 46.000
Cyperan 25EC Chai 480ml 17.000 18.000
Viasheld Chai 480ml 47.000 48.000
ĐiBrom Chai 480ml 26.000 27.000
Ofatox Chai 480ml 28.000 29.000
Basudin 40ND Chai 480ml 27.500 28.500
Biotox Chai 480ml 24.000 25.000
Alphan 5EC Chai 480ml 26.400 28.000
Peran 10EC Chai 480ml 46.200 48.000
Suprathion Chai 1lít 170.000 172.000
Supracid Chai 500ml 90.000 91.000
Regent 0,8gam 4.100 4.500
2.2 Thuốc trừ bệnh
Anvil Chai 100ml 15.000 16.000
Vicarbe Chai 100ml 8.300 9.000
FuJione Chai 100ml 8.000 9.000
Ridomil(Gold) 100 gam 19.000 20.000
Coc 85 25 gam 2.000 2.700
Tilt 250ND Chai 100ml 43.000 44.000
Tilt Super 300ND Chai 100ml 48.400 40.000
Validan 5DD Chai 480ml 10.500 11.500
2.3 Thuốc trừ cỏ
Butan 60 EC Chai 100ml 13.000 14.000
Glyphosan 480DD Chai 480ml 29.400 31.000
Meco 60EC Chai 100ml 17.745 19.000
Sofit 300ND Chai 100ml 21.000 22.500
Spark 16 WEC Chai 480ml 21.000 22.500
* Nhận xét:
- Giá phân bón, thuốc BVTV bình ổn.
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 1 tháng 4 năm 2005.
*************************
Xuất khẩu thịt gia cầm thế giới năm 2005 dự báo tăng 7,3%
Bộ Nông nghiệp Mỹ dự đoán xuất khẩu thịt gia cầm thế giới năm 2005 sẽ tăng tới 6.230 tấn, so với 5.798 tấn của năm 2004. Dự báo xuất khẩu sẽ tăng mạnh nhất ở Trung Quốc và Áchentina, mỗi nước thêm 20% so với năm trước. Xuất khẩu ở Thái Lan và Braxin cũng sẽ tăng, lần lượt thêm 18% và 10%.
Xuất khẩu thịt gia cầm thế giới, nghìn tấn:

Các nước 2003 2004 (ước tính) 2005 (dự báo)
Mỹ 2.232 1.976 2.087
Braxin 1.903 2.255 2.480
EU –25 793 805 775
Trung Quốc 388 250 300
Thái Lan 257 255 300
Áchentina 39 75 90
Canađa 76 70 75
Các tiểu vương quốc Arập 40 40 42
Arập Xêút 25 25 25
Ôxtrâylia 15 16 15
Rumani 5 7 10
Các nước khác 28 24 31
Tổng cộng 6.017 5.798 6.230
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 1 tháng 4 năm 2005.
***************************
Tháng 4 giá cả sẽ tiếp tục tăng
Đây là dự báo mới nhất của Bộ Thương mại sau khi có thống kê thị trường tháng 3 và dự kiến giá cả các mặt hàng nguyên liệu của tháng 4. Theo đó, trong tháng 4, giá các mặt hàng nguyên liệu chính trên thị trường thế giới tiếp tục đứng ở mức cao. Trong đó, giá dầu thô còn diễn biến phức tạp và khó có khả năng xuống dưới 50 USD/thùng, phân urê ở mức trên 250 USD/tấn FOB, phôi thép khoảng 400 - 420 USD/tấn CIF...
Tuy nhiên, điều thuận lợi là nguồn cung các mặt hàng thiết yếu trong nước, nhất là lương thực - thực phẩm đã dồi dào hơn, giá các loại thực phẩm đã giảm dần trở lại mức bình thường do dịch cúm gia cầm cơ bản được khống chế đã góp phần gia tăng nguồn cung thực phẩm trên thị trường và nhu cầu tiêu dùng không tăng mạnh như dịp Tết. Trên thị trường, giá một số loại thực phẩm như: thịt bò, thịt lợn và gia cầm... đều có xu hướng giảm.
Giá gạo tiêu thụ trong nước ổn định và giảm ở một số tỉnh phía Bắc. Mức giá phổ biến ở các tỉnh phía Bắc là 3900 - 4800 đồng/kg, tại ĐBSCL mức giá chỉ giảm nhẹ nhưng lượng cung khá dồi dào do nông dân vừa thu hoạch xong vụ lúa hè thu, giá thóc phổ biến là 2.200 - 2350 đồng/kg. Trong tháng 4, giá lúa gạo có thể sẽ tăng ở những loại sản phẩm dành cho xuất khẩu do nhu cầu đặt mua gạo Việt Nam đang tăng, trong khi đó, giá gạo tiêu thụ trong nước được dự đoán là sẽ tiếp tục ổn định.
Bộ Thương mại báo trong tháng 4 giá tiêu dùng sẽ tăng nhẹ ở mức: 0,1 - 0,3%. Và mức tăng này, theo các chuyên gia là phù hợp với quy luật tăng giá của những năm gần đây.
Thống kê thị trường cho thấy: trong tháng 3, chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2005 tăng 0,1% trong đó khu vực nông thôn tăng 0,3%. Nhóm lương thực - thực phẩm tăng 0,2%. Có 4 nhóm hàng tăng từ 0,1 đến 0,4% và 4 nhóm hàng giảm từ 0,2 đến 0,6%. Chỉ số giá tiêu dùng tại một số vùng diễn biến không giống nhau: Tây Nguyên giảm 0,3%, Đông Nam bộ giảm 0,5%, Đông Bắc tăng 0,7%, duyên hải miền Trung tăng 0,4%, Bắc Trung bộ và ĐBSH tăng 0,3%, ĐBSCL tăng 0,2%, riêng vùng Tây Bắc không tăng.
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 1 tháng 4 năm 2005.
****************************
Tham khảo giá cà phê tại TP.Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk ngày 31/03/2005
ĐV : đồng/kg
Loại cà phê Giá mua tại CTy cà phê BMT(đ/kg) Giá mua tại CTy XNK 2/9 (đ/kg)
Chiều hôm trước Sáng nay Chiều hôm trước Sáng nay
Cà phê nhân xô 13.600 14.300 13.600 14.300
Cà phê loại R2-5% 14.400 14.400
Cà phê loại R 1-6.3 14.900 14.900
Cà phê loại R 1-7.1 15.000 15.000
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 1 tháng 4 năm 2005.
*****************************
Tham khảo giá đường hợp đồng số 11 tại Sở giao dịch New York (CSCE) ngày 30/03/2005
UScent/lb(1lb = 0,454 kg)
Giao kỳ hạn Giá mở cửa Giá cao Giá thấp Giá đóng cửa Mức tăng giảm so hôm trước
5/05 8,49 8,59 8,49 8,55 0,03
7/05 8,76 8,8 8,74 8,75 -0,01
10/05 8,95 8,97 8,9 8,9 -0,04
3/06 8,89 8,93 8,86 8,84 -0,05
5/06 8,81 8,85 8,8 8,8 0
7/06 8,67 8,7 8,67 8,71 +0,04
10/06 8,66 8,7 8,68 8,71 +0,04
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 1 tháng 4 năm 2005.
***************************
Thị trường phân urê thế giới quý đầu năm 2005

Giá urê biến động mạnh theo chiều hướng tăng trong quý 1/2005 do nguồn cung urê khan từ Trung Quốc sau khi nước này đánh thuế xuất khẩu phân bón.
Diễn biến giá:
Sau khi sụt giảm mạnh còn 172 USD/ tấn, FOB Yuzhnyy vào những ngày đầu tháng 2/2005 do nhu cầu mua bù thiếu từ các thương gia, giá đã tăng trở lại khá mạnh. Chỉ trong một tháng kể từ cuối tháng 2 giá đã tăng gần 50 USD/ tấn. Giá urê Yuzhnyy giao tháng 4/2005 đã đạt đến 220-221 USD/ tấn, FOB, tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm ngoái. Các nhà sản xuất có ý định tăng giá chào lên đến 225-230 USD/ tấn, FOB. Giá urê dạng hạt ở Mỹ đã đạt tới mức kỷ lục 260 USD/ tấn, FOB Nola, tương đương với 280 USD/ tấn, CFR. Trong khi ở Bắc Mỹ, giá urê dạng hạt giao tháng 4/05 là 258-259 USD/ tấn, FOB Nola.
Nguyên nhân chính là do lượng urê xuất khẩu của Trung Quốc tiếp tục giảm đáng kể bởi nhu cầu tiêu thụ nội địa tăng trong khi thuế xuất khẩu urê vẫn được thi hành. Nhu cầu nhập khẩu urê tăng vững ở khu vực Mỹ La Tinh và Đông á cộng với việc giá dầu thô thế giới tiếp tục tăng cao cũng là yếu tố hỗ trợ giá phân bón.
Cung cầu:
Mấy tuần qua, Mêhicô đã ký hợp đồng nhập khẩu tới 100.000 tấn urê của Yuzhnyy ( Ucraina) với giá 250-252 USD/ tấn, CIF. Đầu tháng 3, Hàn Quốc đã ký hợp đồng nhập khẩu 25.000 tấn urê dạng hạt của Trung Quốc với giá 257 USD/ tấn, CIF. Thị trường Việt Nam dường như không có nhu cầu nhập khẩu mới, nhưng nhu cầu ở một số nước châu á khác và Đông Phi vẫn vững.
Dự báo:
Giá urê có thể sẽ giảm xuống trong vòng 7-10 ngày tới trước khả năng thanh lý mạnh các hợp đồng dài hạn của giới thương nhân và họ hiện không sẵn lòng chấp thuận mức giá urê Yuzhnyy chào ở mức trên 220 USD/ tấn, FOB.
Nhu cầu tiêu thụ dường như không có dấu hiệu mạnh lên trong tháng 4/05, Italy có thể cần mua khoảng 70.000 –80.000 tấn urê giao tháng 4/05, tuy nhiên, mức giá cao có thể khiến nước này không mặn mà với việc ký kết hợp đồng. Chính phủ Pakistan đã quyết định nhập khẩu 0,5 triệu tấn urê trong thời gian tới do cung cấp dự báo thiếu hụt trong vụ Kharif (vụ đông).
Nguồn tin: Trung tâm thông tin thương mại ra ngày 31 tháng3 năm 2005
****************************
Tham khảo giá chè tại phiên đấu giá Colombo, Sri Lanka ngày 24/03/2005
ĐV tính: rupee/kg, giao tại Sở giao dịch Colombo

Loại chè Giá thấp Giá cao
HG GR BOPS 210 270
HG GR BOPFS 225 260
MD GR BOPS 150 350
MD GR BOPFS 164 220
NUWA BOPS 180 240
NUWA BOPFS 165 234
UVA BOPS 155 198
UVA BOPFS 170 198
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 1 tháng 4 năm 2005.
*************************
Tham khảo giá cà phê giao ngay của một số nước châu á ngày 30/03/2005
Loại hợp đồng Đơn vị tính Điều kiện giao hàng Giá giao Mức thay đổi so hôm trước
ID Gr4 80dfcts $ USD/tấn FOB Lampun 855 +20
ID Gr4 80dfcts IDR/kg FOB Lampun 7500 +50
VN Gr2 5% b&b USD/tấn FOB Saigon 900 -75
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 1 tháng 4 năm 2005.
****************************
Giá cao su RSS3 tại Singapore ngày 30/03/2005
Đơn vị: RSS3 (UScent/kg)
Giao kỳ hạn Giá cao Giá thấp Giá đóng cửa
04/2005 133,5 133,5 133,5
05/2005 134,75 134 134,5
06/2005 134 133 133,5
07-09/05 133,25 131,5 132,75
10-12/05 132 132 132
01-03/06 0 0 132,75
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 1 tháng 4 năm 2005.
****************************
Tham khảo giá gạo giao ngay trên thị trường Mỹ ngày 30/03/2005
Đơn vị tính: USD/tấn
Loại gạo Giá hôm trước Giá đóng cửa Mức tăng giảm so với hôm trước
Gạo hạt dài số 5, 10% tấm 310 310 0
Gạo hạt vừa số 5, 20% tấm 310 310 0
Gạo hạt dài sô 2, 4% tấm 340 340 0
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 1 tháng 4 năm 2005
**************************
Tham khảo giá bông giao kỳ hạn tại thị trường New York ngày 30/03/2005
Đơn vị tính: Uscent/lb.
Giao kỳ hạn Giá mở cửa Giá cao Giá thấp Giá đóng cửa Mức tăng giảm so hôm trước
5/05 53,15 53,58 52,85 53,38 -0,2
7/05 54 54,75 54 54,47 -0,43
10/05 55,9 56,6 55,9 56,15 -0,5
12/05 56,85 57,3 56,85 57,09 -0,51
3/06 58,75 59,15 59,15 58,92 -0,56
5/06 59 0 0 59,65 -0,53
7/06 60 0 0 60,45 -0,6
10/06 60,25 0 0 60,6 -0,65
12/06 61 0 0 61,4 -0,6
3/07 62 0 0 62,8 -0,45
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 1 tháng 4 năm 2005.
****************************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia