Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2005 » Số 14 » Phát triển cơ sở hạ tầng » Hiệu quả từ việc ứng dụng công nghệ sinh học trong việc phát triển nền kinh tế nông nghiệp

Hiệu quả từ việc ứng dụng công nghệ sinh học trong việc phát triển nền kinh tế nông nghiệp

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 14/Phát triển cơ sở hạ tầng
Đề mục : 68.03 Sinh học nông nghiệp
Từ khoá : Công nghệ sinh học Kinh tế nông nghiệp
Từ khoá phụ : Ứng dụng Hiệu quả Phát triển
Nội dung:

Nhìn chung, Khoa học&Công nghệ (KH&CN) nước ta đã tiếp cận và ứng dụng được nhiều thành tựu KH&CN của thế giới để tạo ra nhiều sản phẩm có hàm lượng khoa học cao, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ sinh học. Kết quả nghiên cứu của nhiều đề tài đã được áp dụng vào sản xuất để tạo ra sản phẩm mới, sản phẩm có chất lượng cao phục vụ xuất khẩu thay thế hàng nhập ngoại, góp phần đáng kể vào việc nâng cao trình độ khoa học – công nghệ, năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta. Công nghệ sinh học có một vai trò rất quan trọng trong nhiều lĩnh vực, trong đó lĩnh vực nông nghiệp là một trong những bước đột phá về hiệu quả sản xuất:

Trong lĩnh vực trồng trọt, các nhà khoa học đã nghiên cứu và sản xuất thành công các loại giống lúa lai. Đến nay ngành nông nghiệp nước ta đã tự túc được 30% nhu cầu giống và là nước thứ hai trên thế giới (sau Trung Quốc) tự sản xuất được giống lúa lai. Đặc biệt, chúng ta đã tạo ra được nhiều giống ngô lai chất lượng tương đương ngô lai của các công ty đa quốc gia với giá chỉ bằng 1/3 – 2/3 giá nhập. Nhờ kết quả này hàng năm Nhà nước tiết kiệm được khoảng 10 triệu USD do không phải chi cho nhập giống ngô lai và tạo thêm cho nông dân 300 – 400 tỷ đồng nhờ tăng thêm sản lượng.

5 năm gần đây, nhờ những công trình nghiên cứu đồng bộ về giống, về quy trình nuôi trồng và phương thức tổ chức sản xuất, nghề trồng nấm ở nước ta đã đi vào thế ổn định và phát triển ở quy mô xí nghiệp trang trại và hộ gia đình. Hiện nay, các tổ chức KH&CN đang nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc hình thành các làng nghề trồng nấm ăn để phục vụ cho chương trình 1 triệu tấn sản phẩm/năm (trị giá khoảng 15.000 tỷ đồng) vào năm 2010.

Trong lâm nghiệp, nhờ áp dụng KH&KT nhiều địa phương, lâm trường, hộ nông dân đã trồng rừng kinh tế có lãi. Bằng việc ứng dụng công nghệ mô, hom nhân nhanh các giống cây làm nguyên liệu cho sản xuất giấy có năng suất cao, đã nâng năng suất lên gấp 3 lần trong một chu kỳ sản xuất, góp phần quan trọng vào việc ổn định vùng nguyên liệu cho công nghiệp giấy và gỗ nhân tạo, đóng góp tích cực vào chương trình 5 triệu hecta rừng ở nước ta. Điều quan trọng hơn là việc ứng dụng công nghệ này đã khẳng định trồng rừng kinh tế có lãi - một điều mà hàng chục năm trước đây không ai dám khẳng định. Hiện nay, cây Bạch đàn và cây Keo lai đã được thừa nhận như là loài cây không thể thiếu trong chương trình 2 triệu hecta rừng kinh tế và có mặt trên nhiều khu vực đất xấu, đất hoang hoá ở các vùng trung du phía Bắc, góp phần không nhỏ vào việc phủ xanh đất trồng, đồi núi trọc và chương trình 5 triệu hécta rừng.

Trong lĩnh vực thủy sản, nuôi trồng thủy sản xuất khẩu là một trong những thế mạnh của Việt Nam. Trong hơn 2 tỷ USD giá trị sản phẩm thủy sản xuất khẩu có sự đóng góp đáng kể của KH&CN thể hiện ở các khâu đột phá quan trọng, có tính quyết định cho sự phát triển của nghề nuôi trồng thủy sản. Việc chuyển giao công nghệ sản xuất giống và công nghệ nuôi tôm sú năng suất cao đã tạo tiền đề cho việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất sang nuôi trồng thuỷ sản ở các tỉnh ven biển phía Bắc, giúp tìm ra được mặt hàng xuất khẩu quan trọng cho vùng Đồng bằng Sông Hồng. Việc chuyển giao thành công công nghệ nuôi tôm trên cát đã làm bùng nổ phong trào nuôi tôm ở các tỉnh ven biển miền Trung, tạo điều kiện cho các tỉnh này sử dụng có hiệu quả giải đất cát hoang hoá và chuyển đổi cơ cấu sản xuất sang nuôi trồng thủy sản với hiệu quả kinh tế rất cao. Bằng việc ứng dụng các tiến bộ của công nghệ sinh học trong điều khiển giới tính, chúng ta đã hoàn thiện công nghệ sản xuất cá rô phi đơn tính và siêu đực. Việc nghiên cứu thành công giống cá ba sa nhân tạo, thay thế hoàn toàn việc phải nhập cá giống từ Campuchia, hạ giá thành cá giống, chủ động trong sản xuất, góp phần mang tính quyết định trong việc khôi phục và phát triển nghề nuôi cá bè.
Mới đây, chúng ta đã thành công trong việc sản xuất giống cua biển, ốc hương và cá song, mở ra triển vọng mới cho việc phát triển sản xuất các mặt hàng có giá trị kinh tế cao với tiềm năng sản xuất hàng tỷ USD. Đây sẽ là những đột phá tiếp theo của KH&CN phục vụ cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản nước ta.

Nguồn: Tạp chí Khoa học và Công nghệ/Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Gia Lai, Số 6/2004, tr. 10 – 11.
*****************************

 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia