Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2005 » Số 14 » Đường lối - chính sách » Định hướng chính sách thương mại nhằm thúc đẩy xuất khẩu nông sản của nước ta

Định hướng chính sách thương mại nhằm thúc đẩy xuất khẩu nông sản của nước ta

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 14/Đường lối - chính sách
Đề mục : 06.75 Quản lý kinh tế
68.01 Các vấn đề chung
Từ khoá : Định hướng Chính sách thương mại Xuất khẩu nông sản
Từ khoá phụ : Thúc đẩy
Nội dung:

1. Trong hệ thống chính sách thương mại đối với nông sản phải chú trọng hàng đầu đến chính sách thị trường và các biện pháp xúc tiến thương mại do tính chất đặc thù của sản xuất - kinh doanh nông sản của Việt Nam.
Sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng rất lớn của đất đai, thời tiết, khí hậu. Sản phẩm nông nghiệp thường phải trải qua một thời kỳ sinh trưởng nhất định và việc thu hoạch của nhiều loại cây thường kéo dài trong nhiều năm, nên cần có một quy hoạch dài hạn dựa trên kết quả nghiên cứu thị trường, nếu không có thể chịu tổn thất rất lớn. Thực tế ở Việt Nam trong những năm qua về cây cao su, nhiều loại cây ăn quả đã chứng minh cho điều đó.
Sản xuất nông nghiệp của Việt Nam do hộ nông dân đảm nhận nên việc nắm bắt thông tin thị trường là rất khó khăn, trong khi giá cả các mặt hàng nông sản thường biến động bất lợi do tính thời vụ và tính tươi sống của sản phẩm và nhất là trong điều kiện bảo quản và chế biến thấp kém như ở nước ta. Độ co giãn của cung và cầu của các mặt hàng nông sản thường thấp hơn các mặt hàng công nghiệp. Cạnh tranh rất gay gắt trong kinh doanh hàng nông sản, nhất là giữa nước ta và các nước trong khu vực.

2. Nhất quán thực hiện chính sách tự do hoá thương mại theo các cam kết song phương và đa phương mà Việt Nam đã tham gia, đồng thời đẩy nhanh tự do hoá thương mại đối với nông sản chế biến để tạo điều kiện phân bố nguồn lực một cách có hiệu quả và thúc đẩy việc hình thành môi trường kinh doanh lành mạnh và có tính cạnh tranh cao. Bởi những lý do sau đây:
Một là, trong nhiều năm qua chính sách bảo hộ đã làm cho phân bố nguồn lực bị lệch lạc, tập trung vào các ngành thay thế nhập khẩu (NK) và điều đó đã hạn chế các dòng vốn chảy vào các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh nông sản mà nước ta có lợi thế.
Chính sách thuế quan bảo hộ không có hiệu quả do bảo hộ một cách thiếu chọn lọc, tràn lan không công bằng vừa làm cho môi trường cạnh tranh không lành mạnh, vừa lãng phí các nguồn lực của đất nước. Điều này một lần nữa làm giảm bớt nguồn lực dành cho sản xuất nông nghiệp.
Nếu dỡ bỏ những biện pháp bảo hộ cho các ngành này, các tổ chức tín dụng sẽ không còn tập trung cho vay đối với các dự án không có hiệu quả thì các hộ nông dân, các doanh nghiệp (DN) tư nhân sẽ có điều kiện tiếp cận với các nguồn vốn này để đầu tư cho các mặt hàng nông sản mà nước ta có lợi thế.
Hai là, để bảo hộ ngành sản xuất phân bón nhiều năm nay nước ta thường dùng các biện pháp hạn chế NK như hạn ngạch, qui định đầu mối NK làm cho giá mặt hàng này ở Việt Nam cao hơn nhiều so với giá cả thế giới, gây bất lợi đến khả năng cạnh tranh của hàng nông sản. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng, hệ thống hạn ngạch ảnh hưởng đến NK phân bón đôi khi đã làm giá phân bón trong nước cao hơn cả giá CIF NK từ Indonexia khoảng 70% và cao hơn NK từ Đài Loan 40%. Điều đó trực tiếp góp phần làm tăng chi phí sản xuất nông sản. Chẳng hạn, giá thành sản xuất trái cây của Việt Nam cao hơn 4 lần, xoài cao hơn 5 lần và cà chua cao gần gấp đôi so với Thái Lan. Nếu dỡ bỏ hàng rào bảo hộ, không còn được che chắn, các ngành sản xuất thay thế NK như phân bón, hoá chất phục vụ cho nông nghiệp phải tự vươn lên, đổi mới để nâng cao khả năng cạnh tranh với hàng XK, sẽ làm giảm chi phí đầu vào cho sản xuất nông sản.
Tự do hoá ngành công nghiệp chế biến nông sản sẽ tạo điều kiện cho khu vực tư nhân, các DN có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực này. Năng lực chế biến tăng lên không chỉ là điều kiện để tiêu thụ phần lớn nông sản mà còn làm tăng giá trị lên gấp nhiều lần so với XK thô hoặc sơ chế. Bởi suy cho cùng, hiện nay và có khả năng trong nhiều năm nữa xu thế tiêu dùng nội địa về hàng nông sản của người Việt Nam vẫn ở dạng tươi sống là chủ yếu. Vì vậy, các nhà đầu tư nước ngoài không có động cơ đầu tư trực tiếp vào chế biến để chiếm lĩnh thị trường trong nước khi chúng ta duy trì chính sách bảo hộ đối với ngành này. Mà ngược lại nếu Việt Nam thực hiện cắt giảm thuế quan các mặt hàng nông sản chế biến thì có nghĩa là các nước khác cũng mở cửa đối với các mặt hàng nông sản chế biến của Việt Nam, và điều đó sẽ tạo ra động lực cho các dự án FDI đầu tư chế biến vào các vùng nguyên liệu nông sản mà Việt Nam có lợi thế. Lập luận bảo hộ để nuôi dưỡng ngành công nghiệp chế biến của Việt Nam tỏ ra không có sức thuyết phục vì thực tế cho thấy nhiều năm nay mặc dầu được che chắn bằng nhiều biện pháp khác nhau nhưng năng lực cạnh tranh của các ngành này vẫn không thấy tăng lên đáng kể.
Ba là, chính sách bảo hộ thiếu minh bạch làm cho chi phí giao dịch NK và XK nói chung, đối với hàng nông sản nói riêng cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực, làm giảm khả năng cạnh tranh của các mặt hàng nông sản và gây thiệt hại cho người sản xuất.
Trong nhiều năm qua, do quá trình phân bổ, hạn ngạch XK nông sản và NK phân bón thường không sử dụng hình thức đấu thầu cạnh tranh nên hầu hết các phân bổ này đều có chi phí ngầm. Mặt khác, kể cả hạn ngạch và các mức thuế quan cũng thường xuyên thay đổi, không được thông báo trước cũng gây ra những chi phí không thể dự đoán làm cho chi phí giao dịch tăng lên đáng kể. Bên cạnh đó, các hạn ngạch này lại chủ yếu được phân bổ cho các DNNN, nên đã tạo ra tình trạng độc quyền mua và độc quyền bán trong kinh doanh nông sản, điều đó đã gây nhiều bất lợi cho nông dân.
Ngoài ra, thực hiện một chính sách nhất quán còn tạo ra một niềm tin cho các nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn ra làm ăn lâu dài, loại bỏ những chi phí giao dịch ngầm cho các doanh nghiệp.

3. Các biện pháp bảo hộ nông sản phải phù hợp với qui định quốc tế và phải có hiệu quả. Vì vậy bên cạnh tập trung hoàn thiện hệ thống luật pháp liên quan đến bảo vệ sản xuất trong nước cũng như các biện pháp chống bán phá giá, thuế đối kháng...., chính sách thương mại cần hướng các doanh nghiệp xây dựng các công cụ có khả năng vượt qua các hàng rào bảo hộ mới của các nước NK, đặc biệt là các nước phát triển.

Tự do hoá trong lĩnh vực nông sản giữa nước ta với các nước ASEAN với Trung Quốc đã đạt được qua việc ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế và thương mại trong những năm gần đây, đặc biệt là Hiệp định thu hoạch sớm. Do đó, khả năng các mặt hàng nông sản của các nước này sẽ tràn vào Việt Nam là hiện thực. Vì vậy, để bảo vệ sản xuất trong nước chúng ta cần khẩn trương xây dựng các văn bản pháp luật liên quan đến các biện pháp tự vệ trong thương mại đối với hàng nông sản.
Hiện nay, trong khuôn khổ WTO đã đạt được cam kết tự do hoá thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp. Tuy nhiên, nông nghiệp vẫn nằm trong chính sách bảo hộ của hầu hết các quốc gia đặc biệt là các nước phát triển. Các biện pháp bảo hộ thường bằng các hàng rào kỹ thuật để bảo vệ người tiêu dùng và môi trường. Do đó, các doanh nghiệp của Việt Nam cần phải căn cứ vào tính chất bảo hộ của từng loại sản phẩm ở từng thị trường cụ thể để xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật về an toàn vệ sinh thực phẩm cho phù hợp.
Các công cụ bảo hộ nông nghiệp phải tính đến hiệu quả kinh tế. Chẳng hạn, đối với hạn chế NK đường nên dùng biện pháp hạn ngạch thuế quan sẽ có tác dụng điều tiết thị trường và bảo hộ ngành này tốt hơn là chỉ dùng biện pháp hạn ngạch duy nhất hoặc qui định cấp NK.

4. Chính sách thương mại cần hướng vào thúc đẩy mối liên kết giữa các nhà khoa học – nông dân - doanh nghiệp để nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá mặt hàng và đồng thời xây dựng thương hiệu cho mỗi loại sản phẩm.
Trong buôn bán quốc tế những sản phẩm giống được bảo hộ bằng quyền sở hữu trí tuệ. Đây là một lợi thế rất lớn mà nhiều doanh nghiệp, các nhà khoa học và nông dân của Việt Nam chưa quan tâm khai thác. Để được hưởng quyền lợi đó, sản phẩm cần phải đăng ký nhãn hiệu hàng với các qui định chi tiết từ nguồn gốc sản xuất. Do đó, Nhà nước cần có chính sách thúc đẩy mối liên kết giữa nhà khoa học - nông dân - người thu mua và bảo quản - chế biến - đến DNXK theo một dây chuyền khép kín. Trong điều kiện nước ta hiện nay điều này muốn thực hiện thành công cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước, trong đó pháp luật cần có qui định về phân chia lợi ích giữa các chủ thể tham gia.
Tóm lại, để đẩy mạnh XK nông sản trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, nước ta cần xây dựng các chính sách hướng vào tự do hoá thương mại nhưng phải phù hợp với đặc điểm của sản xuất - kinh doanh nông sản ở Việt Nam. Các chính sách đó cần thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh để tạo điều kiện phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả, thu hút một lượng vốn cần thiết cho sản xuất nông nghiệp. Mặt khác, Nhà nước cần xây dựng chính sách thúc đẩy mối liên kết giữa nhà khoa học - nông dân - doanh nghiệp để tạo ra nhiều sản phẩm mớivới thương hiệu của Việt Nam và có khả năng vượt qua các hàng rào bảo hộ của các nước nhập khẩu.

Nguồn: Tạp chí Thương Mại, Số 45/2004; tr. 3-4.
***************************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia