Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2005 » Số 11 » Đường lối - Chính sách » Tác động đến môi trường do nuôi trồng thủy sản ở nước ta hiện nay

Tác động đến môi trường do nuôi trồng thủy sản ở nước ta hiện nay

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 11/Đường lối - Chính sách
Đề mục : 69.09 Tài nguyên thuỷ sản. Nuôi trồng thuỷ sản
69.99 Các vấn đề khác của thuỷ sản
87.15 Ô nhiễm môi truờng. Kiểm soát ô nhiễm
Từ khoá : Tác động Môi trường Nuôi trồng thủy sản Ô nhiễm
Nội dung:


Hiện trạng môi trường dưới tác động của việc nuôi trồng chế biến thủy sản.

Thủy sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và thuộc nhóm các mặt hàng XK có kim ngạch trên 1 tỷ USD. Bên cạnh những lợi ích to lớn của việc nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi tôm XK nó riêng, hoạt động này cũng gây những tác động tiêu cực đối với các vấn đề môi trường và xã hội.
Sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi tôm đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến rừng đước Việt Nam. Một trong những nguyên nhân chủ yếu do phá rừng làm đầm nuôi tôm. Những hậu quả của việc đánh mất rừng đước có thể kể ra là: làm bờ biển bị xói mòn và ngập lụt, làm thay đổi mô thức tưới tiêu tự nhiên, làm cho nước mặn tiến sâu vào các dòng sông và làm thay đổi môi trường sống của nhiều loài thủy sinh, đe dọa nghiêm trọng đến bảo tồn đa dạng sinh học và an ninh lương thực. Mất rừng đước còn làm xấu đi môi trường nuôi trồng thủy sản, giảm năng suất và chất lượng thủy sản, làm mất đi cơ hội kiếm sống của cư dân nghèo do mất nơi cư sinh của cua con, cá măng, cá phèn, sao biển...
Nuôi tôm trên cát làm ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước ngầm, gây ảnh hưởng đến nuôi trồng các loại cây khác và nguồn nước ngọt cho dân cư. Đến lượt nó, ô nhiễm nước ngầm lại ảnh hưởng đến năng suất tôm và chất lượng tôm. Khảo sát gần đây của Bộ Thủy Sản ở Thừa Thiên Huế cho thấy việc khắc phục sự cố môi trường do việc mở rộng diện tích nuôi tôm là khó khăn và tốn kém.
Nuôi tôm trên cát hiện nay làm cho hiện tượng cát bay, cát lấp bùng phát trở lại. Đó là chưa kể diện tích rừng phi lao phòng hộ ít ỏi đang bị một số chủ trại phá đi để tăng độ thông thoáng cho hồ.

Để giảm độ mặn của nước biển từ 35% xuống 25% thích hợp cho nuôi tôm, cần lượng nước ngọt rất lớn để hòa với nước biển. Nguồn nước ngọt duy nhất cho mục đích này là nước ngầm tại chỗ hoặc hãn hữu là lấy từ các hồ chứa thủy lợi đã làm nguồn nước ngọt hạn chế của vùng cát bị nhiễm mặn nhanh chóng. Sự nhiễm mặn nước ngầm đã ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của cộng đồng địa phương và mâu thuẫn đã phát sinh giữa những người nuôi tôm và không nuôi tôm. Nghề nuôi tôm trên cát đã bộc lộ nhiều nguy cơ không bền vững.

Những vấn đề môi trường khác gắn với nuôi tôm bao gồm các hóa chất và dưỡng chất bị thất thoát vào môi trường, đất và nước bị ô nhiễm, nhiễm mặn, bị ô nhiễm sinh học, số lượng tôm cá trong tự nhiên giảm. Thức ăn cho tôm không được trắc nghiệm hay kiểm dịch trước khi sử dụng sẽ không tránh khỏi là nguồn lan truyền dịch bệnh.

Ô nhiễm do chế biến thủy sản
Theo báo cáo “Đánh giá tác động môi trường trong lĩnh vực thủy sản năm 2002”, tổng lượng chất thải rắn (đầu, xương, da, vây, vẩy...) ước tính khoảng 200 nghìn tấn/năm, đây là chất thải dễ lên men thối rữa. Lượng chất thải này cũng phụ thuộc vào mùa vụ khai thác hải sản, chất lượng và số lượng nguyên liệu sử dụng dẫn đến lúc quá nhiều chất thải, lúc lại rất ít, là khó khăn cho các nhà quản lý xí nghiệp muốn xây dựng cho riêng mình một hệ thống xử lý chất thải có công suất phù hợp.

Lượng chất thải lỏng trong chế biến thủy sản được coi là quan trọng nhất, các nhà máy chế biến đông lạnh thường có lượng chất thải lớn hơn so với các cơ sở chế biến hàng khô, bình quân khoảng 50 nghìn m3/ngày. Nước thải từ các nhà máy chế biến thủy sản có các chỉ số ô nhiễm cao hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn nước thải công nghiệp loại B dùng cho nuôi trồng thủy hải sản. Mức ô nhiễm của nước thải chế biến thủy sản về mặt vi sinh hiện vẫn chưa có số liệu thống kê, nhưng có thể khẳng định là chỉ số vi sinh vật như Clorom sẽ vượt qua tiêu chuẩn cho phép bởi vì các chất thải từ chế biến thủy sản phần lớn có hàm lượng protein, lipit cao là môi trường tốt cho vi sinh vật phát triển đặc biệt là trong điều kiện nóng ẩm như ở Việt Nam.
Đối với các nhà máy chế biến nước mắm, các chất khí phát tán vào khí quyển chủ yếu là SO2, NO2, H2S. Ngoài những chất khí nêu trên, còn một số chất gây mùi khó chịu, làm giảm chất lượng môi trường không khí.

Lượng ô nhiễm do các xí nghiệp chế biến thủy sản gây ra là rất lớn nếu không được xử lý, sẽ làm tăng mức độ ô nhiễm môi trường trên sông rạch và xung quanh khu chế biến. ô nhiễm nước thải chế biến thủy sản nhiều khi chưa được nhận ra ngày do lúc đầu kênh rạch còn khả năng pha loãng và tự làm sạch. Nhưng với lượng thải tích tụ ngày càng nhiều thì dần dần chúng làm xấu đi nguồn nước mặt sông, rạch, ao, hồ và ảnh hưởng đến môi trường sống của khu dân cư xung quanh. Ngòai ra nước thải của ngành chế biến còn tiềm ẩn nguy cơ lan truyền dịch bệnh từ xác thủy sản bị chết, thối rữa.... và điều đáng quan tâm nữa là gây ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động, đến môi trường nuôi trồng thủy sản và đến sự phát triển bền vững của ngành.
Các chính sách đáp ứng nhằm phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản.

Để hạn chế những tác động tiêu cực của việc nuôi trồng và chế biến thủy sản, nâng cao chất lượng thủy sản XK, trong những năm qua Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản về nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy sản, sử dụng các hóa chất trong nuôi trồng. Bộ Thủy sản đã ban hành Quyết định số 649/2000/QĐ-BTS ngày 4/8/2000 ban hành qui chế kiểm tra và công nhận cơ sở sản xuất, kinh doanh thủy sản đạt tiêu chuẩn VSATTP trong đó yêu cầu các cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng thủy sản phải tuân thủ các qui định về vệ sinh an toàn thực phẩm từ khâu nuôi trồng, chế biến, đóng gói, vận chuyển... Thông tư liên tịch số 17/2003/TTLT-BTC-BNNPTNT-BTS hướng dẫn việc kiểm tra, giám sát hàng XK,NK thuộc diện kiểm dịch động vật, kiểm dịch thực vật, kiểm dịch thủy sản cũng đã qui định cho các cơ quan kiểm tra các tiêu chuẩn về VSATTP đối với các mặt hàng nói trên. Một số văn bản khác đã qui định cụ thể về việc cấm sản xuất, lưu thông và sử dụng một số loại kháng sinh, hóa chất trong sản xuất và kinh doanh thức ăn chăn nuôi như: Carbuterol, Cimaterol, Clenbuterol, Chloramphenicol... (Quyết định số 54/2002/QĐ-BNNPTNT ngày 20/6/2002); Chỉ thị của Bộ Thủy sản số 07/2001/CT-BTS ngày 24/9/2001 về việc cấm sử dụng Chloramphenicol và quản lý việc dùng hóa chất, thuốc thú y tế trong sản xuất thủy sản).... Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước trong đó Điều 19 qui định về hoạt động nuôi trồng thủy sản đảm bảo các yêu cầu vệ sinh môi trường và bảo vệ hệ sinh thái ven biển.

Để hạn chế các tác động bất lợi của nuôi trồng và chế biến thủy sản đối với môi trường, cần thực hiện một số biện pháp sau đây:
- Bảo đảm nguyên tắc đánh giá tác động môi trường cần thiết cho các chương trình và dự án mới trong ngành nuôi tôm.
- Cấm xây dựng các ao nuôi tôm ở những rừng đước lâu năm. Phát triển cơ chế đồng quản lý rừng đước trên cơ sở cộng đồng.
- Xúc tiến chương trình giáo dục cho tất cả các bên liên quan từ cán bộ quản lý đến cá nhân những người nuôi tôm về khái niệm phát triển bền vững và làm thế nào để đạt được điều đó trong nuôi trồng thủy sản.
- Quản lý chặt chẽ việc sử dụng thức ăn và thuốc kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản.
- Đánh giá tác động môi trường của các cơ sở chế biến tôm đồng thời xử lý nghiệm ngặt đối với các cơ sở vi phạm vệ sinh môi trường.
- Khẩn trương xây dựng quy hoạch vùng nuôi tôm, nhất là nuôi tôm trên cát, rà soát lại diện tích nuôi trồng để có biện pháp quản lý thích hợp.

Nguồn: Tạp chí Thương mại, Số 45/2004; tr 5-7.
***************************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia