Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở NÔNG THÔN

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 10/IV. Phát triển cơ sở hạ tầng
Đề mục : 86.19 Tổ chức và quản lý bảo hộ lao động
Từ khoá : Việc làm Giải quyết việc làm Lao động nông thôn
Nội dung:
Long An là tỉnh tiếp giáp hướng Tây của thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay Long An là một tỉnh nông nghiệp, đất bị nhiễm phèn, mặn, thường bị thiên tai lũ lụt, trình độ học vấn, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, tỷ lệ lao động thất nghiệp 10% và 20% năm 1990; hàng năm phải tiếp nhận gần 30.000 người bước vào tuổi lao động cơ sở hạ tầng yếu kém, nhất là vùng sâu, vùng xa; đầu tư phát triển các khu công nghiệp và dịch vụ chậm, số doanh nghiệp ít, sản xuất kém hiệu quả phải thu hẹp; sản phẩm nông sản, hàng hóa sản xuất ra chưa có thị trường tiêu thụ ổn định, giá cả lại bấp bênh; mức tăng trưởng kinh tế hàng năm chưa cao và thiếu ổn định. Tuy nhiên, gần đây Long An được nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam, nên có thuận lợi về tiếp thu thông tin, kiến thức khoa học kỹ thuật, quản lý và thu hút vốn đầu tư tạo cơ hội giải quyết việc làm cho người lao động, đồng thời, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động.
Thực hiện Chỉ thị số 23 – CT/TW ngày 29/11/1997 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, giải quyết việc làm – xóa đói giảm nghèo, là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, một trong những chính sách xã hội căn bản trong những chương trình mục tiêu quốc gia; được Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, Ngành Lao động – thương binh và Xã hội với chức năng của mình đã tham mưu xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện chương trình giải quyết việc làm – xóa đói giảm nghèo trong những năm qua như sau:
Bằng những nỗ lực chủ quan của tỉnh, sự hỗ trợ của Trung ương trong việc chinh phục và khai thác tiềm năng Đồng Tháp Mười, với chính sách phát triển kinh tế, thu hút đầu tư và sự kết hợp các chương trình, tỉnh đã giải quyết việc làm cho trên 130.000 lao động (giai đoạn 1996 – 2000), đạt 105% kế hoạch; giai đoạn 2001- 2004 giải quyết việc làm cho 122.670 người, đạt 102% kế hoạch; sắp xếp việc làm mới 75.000 lao động, chiếm 57% tổng số lao động, trung bình mỗi năm giải quyết việc làm được trên 26.000 lao động (giai đoạn 1996 – 2000) và 30.600 lao động (giai đoạn 2001 – 2004). Trong đó, nguồn Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm đã cho 43.200 lượt người vay vốn, tạo việc làm mới cho trên 21.000 lao động, tận dụng thời gian nhàn rỗi cho gần 22.000 lao động. Trong năm 2004, ước giải quyết việc làm cho 30.000 lao động đạt 101,6% kế hoạch.
Chương trình giải quyết việc làm đã giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp từ 6,14% năm 1995 xuống 5,43% năm 2000; 5,3% năm 2001; ước thực hiện năm 2004 còn 4,42% và nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn từ 66,31% năm 1996 lên 72,38% năm 2000, 73,11% năm 2001, 78,55% năm 2003 và ước 2004 là 79%.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 8,73% năm 1996 lên 15,32% năm 2001, 22,14% năm 2003 và ước 23,66% năm 2004, đạt mục tiêu đề ra (20 – 23%).
Công tác giải quyết việc làm đã góp phần xóa đói giảm nghèo, hạ tỷ lệ hộ nghèo từ 12,2% năm 1998 đến nay còn dưới 5% (tỉnh đang điều tra và điều chỉnh nâng tiêu chí hộ nghèo tăng lên).
Chuyển dịch cơ cấu lao động theo xu hướng tích cực: tỷ trọng lao động trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản giảm dần từ 59,1% (năm 1998) xuống còn 53,71% (năm 2003); công nghiệp và xây dựng từ 16,4% (năm 1998) tăng lên 22,01% (năm 2003); thương mại - dịch vụ đạt 24,28% (năm 2003). Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn kỹ thuật có chuyển dịch tăng, số lao động là công nhân kỹ thuật từ: 1 Đại học – 1,8 Trung cấp – 4,5 công nhân kỹ thuật – 65 lao động phổ thông (năm 1997) và 1 Đại học – 1,28 Trung cấp – 10,35 công nhân kỹ thuật và 60 lao động phổ thông (năm 2003). Một bộ phận lớn lao động ở nông thôn do áp dụng cơ giới hóa nông nghiệp và các khu công nghiệp mở ra đã thu hút nhiều lao động ở nông thôn vào nhà máy, ở các huyện lân cận thành phố Hồ Chí Minh như: Đức Hòa, Đức Huệ, Cần Đước, Cần Giuộc đã có sự chuyển dịch lớn về lao động, thậm chí đến mùa vụ nông nghiệp lại thuê lao động ở tỉnh khác như Bến Tre, Tiền Giang, nhiều nhất là vùng Đồng Tháp Mười.
Ước tính đến cuối năm 2005, dân số Long An có khoảng 1,43 triệu dân, dân số trong độ tuổi tham gia hoạt động kinh tế 747.000 người, mỗi năm có khoảng 20.000 người bước vào độ tuổi lao động, cộng với số lao động chưa có việc làm, thì tổng số lao động cần giải quyết việc làm mỗi năm là 30.000 người. Mục tiêu đến cuối năm 2005 là nâng hệ số sử dụng thời gian lao động ở nông thôn lên 78% và đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 23%, trong đó có đào tạo nghề 17% đã và đang trở thành hiện thực.
Từ những kinh nghiệm thực tế đã qua, Long An xây dựng chương trình giải quyết việc làm trên cơ sở huy động mọi nguồn lực, lấy nội lực làm chính, đồng thời tranh thủ vận động sự hỗ trợ của Trung ương, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, tăng cường phối hợp giữa các ngành, các cấp, các đoàn thể, gắn kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội với chương trình giải quyết việc làm – xóa đói giảm nghèo; đẩy mạnh chương trình phát triển kinh tế, mở mang ngành nghề, tạo việc làm, khuyến khích mở thêm các hợp tác xã dịch vụ để thu hút lao động nhàn rỗi ở nông thôn; chuyển giao khoa học kỹ thuật, thâm canh tăng vụ, cải tạo vườn tạp, nghiên cứu thổ nhưỡng, đưa cây trồng vật nuôi thích hợp nhằm tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm; đồng thời có những chính sách thu hút đầu tư; Tập trung mọi nguồn lực phát triển mạng lưới đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực, đào tạo chuyên môn, kỹ thuật kết hợp với xuất khẩu lao động; đặc biệt là mở rộng chức năng dạy nghề của các huyện, gắn với nông nghiệp; tăng cường xây dựng, đào tạo tập huấn nâng cao năng lực quản lý, điều hành và có chế độ đãi ngộ đội ngũ cán bộ làm công tác giải quyết việc làm – xóa đói giảm nghèo các cấp.
Tác giả: Lê Phạm Ngọc Kỳ, Phó giám đốc Sở Lao động – TBXH tỉnh Long An
Nguồn: TC Lao động và Xã hội, số 250, 11/2004, tr. 34 – 35.
********************************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia