KINH TẾ TRANG TRẠI Ở HẢI DƯƠNG: NHỮNG CHUYỂN ĐỘNG TÍCH CỰC |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Nông thôn đổi mới |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 9/Cách làm ăn mới |
| Đề mục | : | 68.99 Các vấn đề khác của nông nghiệp và lâm nghiệp |
| Từ khoá | : | Kinh tế trang trại ; Hải Dương |
| Nội dung: | ||
|
Tỉnh Hải Dương hiện có 540 trang trại, tăng 366 trang trại so với năm 2001. Phong trŕo làm KTTT phát triển khắp 12/12 huyện, thành phố của tỉnh. Trong đó, tập trung nhiều nhất ở huyện Chí Linh với 134 trang trại, chiếm 24,8%; huyện Nam Sách có 88 trang trại (16,3%); Gia Lộc 75 trang trại (13,9%), Bình Giang 67 trang trại (12,4%), các huyện Thanh Miện, Kim Thành, Kinh Môn và thành phố Hải Dương có 172 trang trại. Ninh Giang là huyện có số trang trại ít nhất với 4 trang trại, chiếm 0,74% số trang trại toàn tỉnh. Bình quân diện tích canh tác của mỗi trang trại đã đạt 3,39 ha, diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản đạt 0,36 ha/trang trại. Với phương châm "lấy ngắn nuôi dŕi", "lấy mô hình nọ nuôi mô hình kia", xu thế phát triển hiện nay trong KTTT ở Hải Dương là kinh doanh tổng hợp, chiếm 61,5% (332 trang trại/540 trang trại). Các trang trại chăn nuôi chủ yếu tập trung tại các huyện: Nam Sách, Gia Lộc, Thanh Miện, thŕnh phố Hải Dương. Các trang trại nuôi trồng thuỷ sản tập trung nhiều ở các huyện Tứ Kỳ, Cẩm Giàng. Trang trại đặc thù (chủ yếu nuôi con đặc sản ba ba và sản xuất con giống thuỷ sản) tập trung ở các huyện Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà... Cùng với việc tích tụ ruộng đất tương ứng với quy mô và khả năng quản lý, KTTT ra đời vŕ phát triển đă lŕm năng động thęm nền kinh tế địa phương trong việc thu hút lao động, giải quyết việc lŕm, vốn đầu tư vŕ áp dụng kỹ thuật tiến bộ. Theo điều tra của Cục thống kę tỉnh Hải Dương, năm 2004, ở 407/540 trang trại đă huy động vŕ sử dụng tổng vốn trên 75 tỷ đồng, trong đó có 20 tỷ được vay từ các ngân hŕng thương mại, bình quân, mỗi trang trại sử dụng trên 182 triệu đồng tiền vốn/năm 2004, tăng 60 triệu đồng so với běnh quân sử dụng vốn/1 trang trại/ năm 2001. Hŕng năm, các trang trại trên địa bàn tỉnh Hải Dương sử dụng thường xuyên khoảng 2.700 lao động và khoảng 1 vạn lao động thời vụ. Đă xuất hiện những trang trại thu hút vốn lớn, thuê mướn nhiều nhân công như trang trại anh Nguyễn Văn Sơn ở xã ứng Hoè (huyện Ninh Giang) đầu tư 3 tỷ đồng, thường xuyęn sử dụng 7 lao động. Lao động kỹ thuật được trả công tręn 1 triệu đồng/tháng....
Tổng giá trị hàng hoá dịch vụ từ các trang trại thu được là 69 tỷ 563 triệu đồng. Bình quân, mỗi trang trại đạt gần 171 triệu đồng. Tổng thu nhập của các trang trại đạt tręn 14 tỷ 200 triệu đồng. Běnh quân, mỗi trang trại đạt mức thu nhập 35 triệu đồng. Bị chi phối bởi đầu tư, chi phí cho sản xuất cũng như tięu thụ sản phẩm nên giữa các loại hình trang trại, hiệu quả kinh tế thu được có sự khác nhau. Tính theo mức bình quân/trang trại: Trang trại trồng trọt đạt thu nhập 47,13 triệu đồng, lăi 27,5 triệu đồng/năm. Trang trại nuôi trồng thuỷ sản thu nhập 1 tỷ 228 triệu đồng, lăi 61,3 triệu đồng. Trang trại chăn nuôi gia cầm thu nhập 939,5 triệu đồng, lãi 79 triệu đồng. Trang trại chăn nuôi lợn thu nhập 235 triệu đồng, lăi 37,55 triệu đồng. Trang trại tổng hợp thu nhập 154,5 triệu đồng, lăi 32,74 triệu đồng vŕ trang trại đặc thů có mức thu nhập bình quân 210 triệu đồng, lãi 78,75 triệu đồng/trang trại. Cùng với sự tự lực, tự cường vươn lên (100% các trang trại đều do chủ hộ quản lý, chưa có trang trại nào thuê người quản lý), các trang trại ở Hải Dương đă có sự hợp tác, lięn kết với nhau trong học tập, trao đổi kinh nghiệm, áp dụng tiến bộ KHKT, tięu thụ sản sản phẩm. ở huyện Cẩm Giàng có Hiệp hội trang trại và HTX thuỷ sản. ở huyện Nam Sách có Hội nghề cá xã Cộng Hoà và 4 HTX chăn nuôi hoạt động rất hiệu quả. ở huyện Kim Thŕnh có Hiệp hội chăn nuôi...Tỉnh Hải Dương đă có 50 trang trại tham gia vào Câu lạc bộ trang trại Việt Nam. Để các chủ trang trại yęn tâm đầu tư sản xuất vŕ được hưởng các chính sách khuyến khích của Nhŕ nước, Hải Dương là một trong những địa phương đầu tięn của cả nước thực hiện việc cấp giấy chứng nhận KTTT. Tính đến nay, các huyện, thành phố trong tỉnh đã cấp gần 300 giấy chứng nhận KTTT cho các trang trại. Trong loại hình kinh tế trang trại đã xuất hiện những chủ trang trại tiêu biểu như: Trần Sơn Nhạ (Đoàn Tùng, Thanh Miện), Nguyễn Văn Sơn (ứng Hoè, Ninh Giang), Nguyễn Huy Lộc (Tân Trường, Cẩm Giàng), Mạc Văn Thuận (Lê Lợi, Chí Linh), Lưu Thị Tám (Ái Quốc, Nam Sách)... Để thúc đẩy KTTT tiếp tục phát triển với đŕ tăng trưởng nhanh vŕ bền vững, tỉnh Hải Dương đang chỉ đạo thực hiện một số giải pháp về đất đai, lao động, tăng hŕm lượng khoa học kỹ thuật công nghệ, gắn KTTT với phát triển kinh tế chung của tỉnh cũng như kinh tế vùng. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với KTTT trên các lĩnh vực: hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận KTTT, bố trí kinh phí hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý cho các chủ trang trại; hỗ trợ các chủ trang trại trong xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao trình độ người lao động, hěnh thành quỹ trợ giá nông sản nhằm hỗ trợ một phần thiệt hại cho người sản xuất, tăng cường công tác sơ kết, tổng kết, thi đua khen thưởng, nhân rộng các điển hěnh trang trại tiên tiến. Nguồn: Sản xuất và thị trường, Số 3/2005 |
||
