Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2005 » Số 8 » Đường lối - Chính sách » Vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam trong thời gian tới

Vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam trong thời gian tới

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 8/Đường lối - Chính sách
Đề mục : 68.01 Các vấn đề chung
68.99 Các vấn đề khác của nông nghiệp và lâm nghiệp
Từ khoá : Vai trò của Nhà nước Phát triển Hợp tác xã nông nghiệp
Nội dung:
Hội nghị lần thứ 9 BCHTW Đảng khóa IX đã khẳng định: Hỗ trợ, tạo điều kiện để phát triển có hiệu quả hơn kinh tế tập thể; tổng kết nhân tố mới, các mô hình kinh tế tập thể làm ăn có hiệu quả để phổ biến nhân rộng phù hợp với điều kiện của từng ngành nghề, từng địa phương; hỗ trợ tốt hơn việc đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ tài chính, kế toán hợp tác xã; giải quyết dứt điểm việc xóa nợ cũ; tạo điều kiện để các hợp tác xã tiếp cận các nguồn vốn cho vay của các tổ chức tín dụng... Trong những thập niên tới, để hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam phát triển thì Nhà nước giữ vai trò to lớn, thể hiện ở những điểm sau:

1. Về chính sách xóa nợ đối với hợp tác xã.
Cần có chính sách bổ sung cho phép xóa các khoản nợ đọng quá lâu, như nợ ngân hàng, nợ thuế nông nghiệp, nợ các doanh nghiệp Nhà nước và nợ các đối tượng khác, trên cơ sở sau khi đã xem xét kỹ, làm rõ từng trường hợp cụ thể, thực sự hợp tác xã không còn khả năng thanh toán, đồng thời có phương án thích hợp cấp bù, giảm vốn tương ứng cho các chủ nợ của hợp tác xã. Các khoản nợ được xóa phải được làm rõ, có ý kiến đề nghị của đại hội xã viên hợp tác xã và Ủy ban nhân dân huyện thẩm định. Việc Nhà nước xóa nợ cho hợp tác xã, các hợp tác xã cần xem xét xóa nợ cho hộ xã viên đối với những khoản nợ liên quan đến khóan nợ mà Nhà nước đã xóa cho hợp tác xã.

2. Chính sách đầu tư tài chính đối với kinh tế hợp tác xã trong nông nghiệp
Hợp tác xã có hai nguồn vốn cung cấp đó là: Vốn từ nội bộ hợp tác xã và nguồn vốn từ bên ngoài. Từ thực tế cho thấy, nguồn vốn từ nội bộ hợp tác xã rất nhỏ bé. Trong khi đó, toàn bộ hệ thống có liên quan đến nhiệm vụ cấp tín dụng cho nông nghiệp nông thôn (từ Trung ương đến cơ sở) bao gồm bốn ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng phục vụ người nghèo, 16 ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn và hàng ngàn quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, cho vay giải quyết việc làm của kho bạc Nhà nước, Hội Nông dân, Hội phụ nữ, Hội Cựu chiến binh... Trong đó, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn là chủ yếu (chiếm khoảng gần 90% thị phần tín dụng). Tuy nhiên, cho đến nay hầu như các hợp tác xã nông nghiệp đều chưa được vay vốn trực tiếp của ngân hàng quốc doanh. Ngoài ra, nhu cầu vốn đối với kinh tế nông hộ và trang trại gia đình cũng là đòi hỏi hết sức cần thiết. Theo số liệu điều tra cho thấy, hiện nay ở nhiều vùng có tới hơn 70% nông hộ phải đi vay bằng nhiều cách, kể cả bán “sản phẩm non”, vay nặng lãi để đáp ứng nhu cầu phát triển hàng hóa. Bởi vậy, thông qua chính sách đầu tư tài chính, Nhà nước phải thực hiện nhiệm vụ giúp đỡ, tạo điều kiện cho nông nghiệp, nông dân (nông hộ, trang trại gia đình và kinh tế hợp tác) có vốn hoạt động. Cần tránh cả hai.
Cần có hướng dẫn cụ thể thực hiện Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg tháng 3 năm 1999, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác xã sau chuyển đổi và hợp tác xã mới thành lập được vay vốn phát triển sản xuất. Đối với những hợp tác xã có vốn góp không lớn (dưới 50 triệu), nếu hợp tác xã có dự án phát triển sản xuất – kinh doanh có tính khả thi, được Ủy ban nhân dân xã giám định thì có thể được vay số tiền tương đương số vốn của hợp tác xã mà không cần thế chấp.
Đồng thời, cần coi trọng việc củng cố và phát triển hợp tác xã, quỹ tín dụng nông thôn theo tinh thần Chỉ thị của Bộ Chính trị ra ngày 13/10/2000. Tăng cường hình thức tín chấp thông qua các đoàn thể quần chúng và chính quyền cấp xã để các hộ có khó khăn vay vốn sản xuất. Tăng cường kiểm soát, chấm dứt tình trạng cho vay nặng lãi ở nông thôn.

3. Chính sách thuế
Mặc dù, Chính phủ đã ban hành Nghị định 15/CP về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác xã; Bộ Tài chính đã có Thông tư hướng dẫn số 44/1999/TT-BTC về ưu đãi thuế đối với hợp tác xã. Một số hợp tác xã gặp nhiều khó khăn trong điều kiện cạnh tranh của cơ chế thị trường. Bởi vậy, Chính phủ nên miễn thuế cho các hoạt động dịch vụ của hợp tác xã nông nghiệp gồm cung ứng vật tư sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm ...phục vụ sản xuất và đời sống của hộ xã viên.

4. Chính sách ruộng đất.
Nhà nước cần có cơ chế kiểm tra đôn đốc các địa phương khẩn trương thực hiện chính sách giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến hộ nông dân. Cần thể chế hóa 5 quyền trong Luật đất đai, khuyến khích quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất (trong phạm vi cho phép) cho các hộ, trang trại phát triển sản xuất hàng hóa. Hướng dẫn nông dân thực hiện dồn điền, đổi thửa tạo điều kiện cho sản xuất hàng hóa thuận lợi.
Cùng với quá trình nói trên, cần đẩy mạnh việc mở mang ngành, nghề nông thôn để giải quyết việc làm cho lao động chuyển từ nông nghiệp sang. Cần bổ sung chính sách miễn giảm tiền thuê đất đối với hợp tác xã nông nghiệp đã được cấp giấy đăng ký kinh doanh.
Hiện nay, Bộ Tài chính đã có Thông tư hướng dẫn số 44/1999/TT-BTC, nhưng chỉ miễn cho các hợp tác xã ở nông thôn miền núi, hải đảo trong thời hạn 5 năm. Đối với các hợp tác xã khác chỉ được giảm tiền thuê 50% trong thời gian hai năm (hợp tác xã được cấp giấy đăng ký kinh doanh). Đây là một trong những khó khăn cho hoạt động hợp tác xã nông nghiệp. Bởi vậy, đề nghị nên miễn tiền thuế đất để làm trụ sở, nhà kho cho tất cả các hợp tác xã nông nghiệp đang sử dụng đất có từ trước ngày 1/1/2000.
Đối với các tỉnh miền núi, vùng xa biên giới, cần miễn không thời hạn tiền thuê đất mà hợp tác xã sử dụng để làm cho các công trình dịch vụ phục vụ sản xuất, miễn với thời hạn 5 năm kể từ khi có quyết định giao đất đối với hợp tác xã nông nghiệp thuộc vùng đồng bằng. Sau thời hạn đó, nếu hợp tác xã còn khó khăn, cần nghiên cứu cụ thể để cho miễn giảm tiếp.

5. Chính sách khuyến nông, khoa học và công nghệ
Việc đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp có vai trò hết sức to lớn. Đó là động lực trực tiếp thúc đẩy quá trình phát triển nền nông nghiệp hàng hóa tiến lên sản xuất lớn, hiện đại.
Đây chính là cơ sở nâng cao hàm lượng khoa học trong năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp. Để thực hiện mục tiêu nói trên, cần: (+) Trợ giá một phần cho việc đầu tư ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong sản xuất nông nghiệp. (+) Thực hiện chính sách ưu đãi về các loại thuế, mức lãi suất tín dụng... (+) Miến, giảm thuế cho các hoạt động ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, giảm một phần hoặc toàn bộ chi phí đào tạo, bồi dưỡng huấn luyện mạng lưới (cán bộ) làm nhiệm vụ chuyển giao KHKT cho nông dân. (+) Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ hợp tác xã, cán bộ quản lý cấp xã về kiến thức khoa học và công nghệ. (+) Tăng cường đầu tư kinh phí cho các hoạt động nghiên cứu khoa học phục vụ nông nghiệp từ khâu giống đến phương pháp canh tác, sản xuất và sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu phù hợp yêu cầu phát triển bền vững nền nông nghiệp sinh thái. (+) Sắp xếp, củng cố hệ thống các cơ quan nghiên cứu khoa học từ Trung ương đến địa phương sao cho có hiệu quả, xây dựng mối quan hệ về hợp tác nghiên cứu, triển khai ứng dụng KHKT với hộ nông dân mà người đại diện là hợp tác xã. (+) Tăng cường hoạt động của các trung tâm khuyến nông sâu rộng tới xã, thôn bản. (+) Khuyến khích áp dụng đa dạng các hình thức thu hút, sinh viên tốt nghiệp các trường đại học có chuyên môn phù hợp với công tác ở nông thôn miền núi, cùng với những chế độ ưu đãi thỏa đáng đối với những người hòan thành tốt nhiệm vụ.

6. Chính sách thị trường
Thị trường là căn cứ để tổ chức sản xuất, là cơ sở để hình thành quyết định đầu tư. Để đáp ứng yêu cầu phát triển, hòan thiện các hình thức kinh tế hợp tác, hợp tác xã nhằm thúc đẩy sự phát triển nền nông nghiệp hàng hóa tiến lên sản xuất lớn, cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: Thứ nhất, nhu cầu của thị trường tiêu thụ nông sản, trước hết là những nông sản hàng có khối lượng lớn, đặc biệt là nông sản phục vụ nhu cầu xuất khẩu. Thứ hai, tình hình sản xuất, cạnh tranh và sự biến động giá cả trên thị trường trong nước và quốc tế. Thứ ba, những thông tin dự báo cần thiết về việc xác định nhu cầu và hướng phát triển nhu cầu thị trường nông sản trong nước và quốc tế.
Thứ tư, những thông tin về phương thức, điều kiện, yêu cầu bảo đảm tính thông suốt, tính thời gian từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ...

7. Chính sách đào tạo, sử dụng cán bộ hợp tác xã và đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Hiện nay, trình độ cán bộ hợp tác xã còn thấp nhiều so với yêu cầu, số chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ lớn, không ít chủ nhiệm hợp tác xã có trình độ văn hóa cấp I. Do vậy, từ cấp Trung ương đến địa phương cần có đề án cụ thể công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ hợp tác xã.
Rà soát và củng cố hệ thống các trường đào tạo từ Trung ương đến địa phương, xây dựng tài liệu giáo trình, chương trình giảng dạy về hợp tác xã nông nghiệp theo tiêu chuẩn chung của cả nước và phù hợp với từng địa phương. Trong giai đoạn trước mắt, Nhà nước cần hỗ trợ 100% kinh phí đào tạo.
Cần coi trọng chất lượng nguồn lao động nông thôn, hiện nay, lao động nông thôn đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ rất thấp. Bởi vậy, việc đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn cần phải được coi là chương trình quốc gia. Trước mắt, có thể bằng ngân sách nhà nước kết hợp với các chương trình, dự án và người lao động tự đóng góp để nhanh chóng nâng cao trình độ lao động nông thôn.

8. Tăng cường mối liên kết hợp tác giữa hợp tác xã với các thành phần kinh tế khác, trước hết là kinh tế Nhà nước.
Trong điều kiện hiện nay, kinh tế Nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng có tính quyết định đến sự phát triển của toàn ngành nông nghiệp, hợp tác xã là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp thực hiện việc tiếp nhận sự hỗ trợ của Nhà nước, triển khai chương trình, dự án có liên quan đến kinh tế hộ ở địa phương. Mặt khác, hợp tác xã giúp doanh nghiệp Nhà nước mở rộng phạm vi hoạt động phục vụ hoạt động phục vụ trực tiếp, có hiệu quả đến nông dân. Do vậy, tùy điều kiện cụ thể cần phải thiết lập các mối quan hệ liên kết, hợp tác giữa doanh nghiệp nhà nước với hợp tác xã nông nghiệp, trong đó doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò nòng cốt.

Các công ty thủy nông, trung tâm khuyến nông, chi cục bảo vệ thực vật... là doanh nghiệp, dịch vụ Nhà nước cần giao cho hợp tác xã quản lý điều hành những công việc cụ thể: Cấp thoát nước trong phạm vi kênh mương nội đồng, phổ biến áp dụng kỹ thuật sản xuất, phòng trừ sâu bệnh đến từng hộ nông dân... Đồng thời, phải giúp đỡ hợp tác xã đào tạo kỹ thuật viên và phương pháp tổ chức dịch vụ có hiệu quả các hợp tác xã cần mở rộng hơn mối quan hệ về tiêu thụ chế biến nông sản ... với các thành phần kinh tế nhất là huy động vốn đầu tư cho phát triển sản xuất nông nghiệp.

9. Tăng cường hệ thống tổ chức quản lý Nhà nước đối với kinh tế hợp tác, hợp tác xã.
Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước đối với kinh tế hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp cần được tổ chức từ Trung ương đến cấp huyện: Vụ (Cục) Nghiên cứu các chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn, Phòng nghiệp vụ phụ trách Sản xuất nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, Phòng Chính sách nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện. Đây là những cơ quan tham mưu của Bộ, Sở và Ủy ban nhân dân huyện thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với kinh tế hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp. Tuy nhiên, hiện nay hoạt động của hệ thống này còn thiếu sự phối hợp chặt chẽ và hiệu lực chưa cao. Ở cấp huyện, số cán bộ được phân công theo dõi thường là làm kiêm nhiệm, cán bộ vừa thiếu và không yên tâm tập trung cho nhiệm vụ tổ chức quản lý kinh tế hợp tác, hợp tác xã. Bởi vậy, cần bố trí đủ lực lượng cán bộ để thực hiện tốt nhiệm vụ này.
Đối với Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thuộc Sở nên có từ 5-7 cán bộ. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các huyện, thị có từ 1-2 cán bộ chuyên trách về kinh tế hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp.

Thường xuyên nâng cao trình độ quản lý Nhà nước đối với kinh tế hợp tác, hợp tác xã thông qua đào tạo bồi dưỡng trong hệ thống của các trường từ tỉnh đến Trung ương kết hợp với việc tham quan học hỏi kinh nghiệm trong và nước ngoài.
Nhà nước cần cấp một khoản kinh phí cần thiết cho hệ thống quản lý Nhà nước đối với kinh tế hợp tác, hợp tác xã.
10. Xây dựng cơ chế phối hợp có hiệu quả giữa tổ chức Đảng chính quyền và các tổ chức đòan thể với hợp tác xã trên từng địa bàn.

Hợp tác xã nằm trong địa bàn nên sự phát triển của hợp tác xã có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Bởi vậy, các tổ chức kinh tế hợp tác, hợp tác xã phải chịu sự lãnh đạo của Đảng và quản lý giúp đỡ của chính quyền địa phương. Đó là đòi hỏi khách quan trong quá trình phát triển. Tổ chức Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo chung thông qua chủ trương, nghị quyết và vai trò gương mẫu của người Đảng viên. Chính quyền địa phương có quyền và có trách nhiệm kiểm tra, giám sát hợp tác xã trong việc tuân thủ luật pháp và các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhưng tuyệt đối không được can thiệp trực tiếp vào công việc nội bộ của hợp tác xã, không làm thay chức năng của hợp tác xã, song phải tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ cho các hợp tác xã hoạt động theo pháp luật.

Các tổ chức đòan thể: Thanh niên, Phụ nữ, Hội cựu chiến binh... cũng là động lực thúc đẩy kinh tế. Hợp tác hoạt động hiệu quả. Ngòai mục tiêu kinh tế là hàng đầu hợp tác xã còn phải đạt mục tiêu xã hội, góp phần xây dựng tính cộng đồng đòan kết, tương trợ trong các xã viên của mình, song không thể biến nó thành tổ chức xã hội làm thay nhiệm vụ của hệ thống chính trị của địa phương.

Nguồn: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Số 10/2004; tr. 1306 - 1311.
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia