Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

Giá cả thị trường

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 8/Bảo quản - Chế biến - Tiêu thụ
Đề mục : 06 Kinh tế. Khoa học kinh tế
Từ khoá : Giá cả thị trường
Nội dung:
Giá cả thị trường
Điểm tình hình thị trường cà phê trong năm 2005
Năm 2005 giá cà phê có thể sẽ tăng sau 6 năm qua do nhu cầu thế giới tăng và sản lượng từ Brasil giảm.
Giá cà phê arabica giao sau niêm yết tại sàn giao dịch New York Board of Trade, sàn giao dịch cà phê lớn nhất thế giới, sẽ ở mức trung bình là 1 USD/pound trong năm 2005. Đây là dựa trên kết quả đánh giá của 11 nhà phân tích và chế biến cà phê. Giá này cao hơn 30% so với năm 2004.
Cà phê kỳ hạn giá đã tăng 60% trong năm 2004, cao hơn cả các loại hàng hoá khác như dầu thô, đường, đồng. Các nhà cung cấp đã phải chịu sức ép từ nhu cầu tăng của Starbucks và những người mua khác, đồng thời trước viễn cảnh sản lượng giảm từ các nước Brasil, Việt nam và Inđônêxia. Ba nước này chiếm 48% xuất khẩu cà phê hạt của thế giới.
Giá cà phê kỳ hạn ngày 21/12 đã đạt 1,087 USD/lb, mức cao nhất kể từ tháng 7/2000. Năm 2004 tăng bình quân 77,12 UScent, 23% so với năm 2003.
Giá kỷ lục trong năm 2005 sẽ đạt mức 1,275 USD. Mức tiêu thụ cà phê toàn cầu trong năm 2005 sẽ đạt khoảng 118 triệu bao, tăng 2,4%. Nhu cầu từ Mỹ, nước tiêu thụ cà phê lớn nhất trên thế giới đã tăng 9,2% trong năm 2003.
Trong tháng 10/2004, hệ thống các nhà hàng cà phê Starbucks ở Seatle, hệ thống tiêu thụ lớn nhất trên thế giới đã tăng 11 UScent/ly. Đây là lần tăng giá đầu tiên sau 4 năm.
Nguồn: Báo Thương mại, ra ngày 19 tháng 2 năm 2005.
****************************
Dự báo giá gạo năm 2005
Nhiều nước xuất khẩu gạo đang gặp phải hạn hán. Do vậy giá gạo thế giới trong năm 2005 dự kiến vẫn ổn định ở mức cao như năm 2004 và có xu hướng tăng nhẹ. Gạo Việt Nam đủ sức cạnh tranh. Giá gạo thị trường thế giới năm vừa qua luôn vận động và đứng ở mức cao. Sản lượng lúa gạo tăng chủ yếu ở châu Á, đặc biệt tại Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Philippine, Hàn Quốc và Việt Nam. Mặc dù lượng lúa gạo năm qua tăng cao, song lượng gạo dự trữ của thế giới vào cuối năm chỉ đạt 99 triệu tấn, tức thấp hơn lượng gạo dự trữ vào cuối năm ngoái khoảng hai triệu tấn.
Theo các nhà phân tích thị trường, nguyên nhân giá thóc gạo trong nước năm 2004 ở mức cao là do:
Một là: Giá gạo thị trường thế giới tăng ở mức cao.
Hai là: Về tổng thể thì nguồn cung lúa gạo cân đối đủ nhu cầu (theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sản lượng thóc năm 2004 của cả nước đạt 35,7 triệu tấn tăng 1,2 triệu tấn so với năm 2003, trừ nhu cầu tiêu dùng trong nước khoáng 27,6- 28,1 triệu tấn, khả năng lúa hàng hóa dành cho xuất khẩu quy gạo khoảng 3,9-4 triệu tấn) nhưng tiến độ xuất khẩu gạo một vài tháng quá cao đã tác động làm tăng giá trong nước.
Ba là: Giá gạo tại quốc gia láng giềng Trung Quốc tăng mạnh. Các doanh nghiệp xuất khẩu cũng triển khai mua nhiều đã có tác động và ảnh hướng làm giá gạo thị trường nội địa tăng mạnh hơn.
Bốn là: Do nhu cầu can thiệp thị trường lúa vụ chính từ tháng 9-2004 đến tháng 2-2005 của Chính phủ Thái-lan đã hỗ trợ giá gạo chào bán tăng, nhiêu nhà nhập khẩu từ Philippine, Iraq, châu Phi đang quan tâm đến gạo Việt Nam bởi giá gạo của Việt Nam thấp hơn so với gạo cùng loại của Thái-lan, cùng với nguồn cung thóc ở đồng bằng sông Cửu Long về cuối năm hạn chế, là những nguyên nhân chính đẩy giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng và đứng ở mức cao.
Theo dự đoán của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) cho thấy sản lượng gạo thể giới niên vụ 2004/2005 sẽ tiếp tục tăng 2,5% sau khi đã tăng 2,7% ở niên vụ trước. Trong đó sản lượng gạo niên vụ 2004/2005 dự đoán sẽ tăng chủ yếu ở Trung Quốc, Mỹ, mỗi nước tăng 12% và Nhật Bản 10%. Ngược lại sản lượng gạo niên vụ 2004/2005 dự đoán sẽ giảm ở Ấn Độ, Brazil, Bangladesh giảm 2- 8,2% so với vụ trước.
Bán buôn gạo thế giới năm 2005 sẽ giảm xuống mức 25,1 triệu tấn (giảm 117 nghìn tấn so với năm 2004). Hạn hán xảy ra ở nhiều nước xuất khẩu gạo nên lượng gạo xuất khẩu có thể giảm. Dự đoán Thái-lan có thể giảm 2-3 triệu tấn, Trung Quốc có thể không tham gia xuất khẩu gạo năm 2005, Chính phủ Ấn Độ đã ngừng trợ cấp xuất khẩu gạo sau khi dự trữ trong nước giảm mạnh nên lượng gạo xuất khẩu có thể giám 1,6 triệu tấn.
Tồn kho gạo cuối niên vụ dự đoán giảm xuống 16,1 triệu tấn, trong đó nhiều nhất là ở Trung Quốc, Thái-lan, Việt Nam.
Đó là những nguyên nhân khiến giá gạo thế giới có thể vững giá trong niên vụ 2004/2005.
Dự báo sản lượng lúa trong nước năm 2005 ước đạt 35,4 triệu tấn, tiêu dùng trong nước khoảng 27 triệu tấn, lượng gạo xuất khẩu năm 2005 dự kiến 4 triệu tấn, với sản lượng trên có thể cân đối cung cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Dự báo giá gạo thế giới có thể tiếp tục đứng ở mức cao như năm 2004, giá gạo xuất khẩu của Thái-lan loại 5% tấm FOB 225-245USD/tấn, gạo xuất khẩu cùng loại của Việt Nam 220-230 USD/tấn. Những tháng đầu năm 2005 có thể còn tăng so với mức giá cuối năm 2004 do hạn hán xảy ra ở nhiều nước xuất khẩu gạo lớn cùng với nhu cầu nhập khẩu gạo tăng từ nhiều nước.
Dự báo giá thóc gạo trong nước năm 2005 có thể ổn định ở mức cao như năm 2004 và có xu hướng tăng nhẹ. Ở đồng bằng sông Cửu Long giá thóc giao động trong khoảng 2.000-2.300 đồng/kg, giá gạo xuất khẩu 5% tấm khoảng 3.400 - 3.800 đồng/kg, giá gạo 25% tấm khoảng 3.000-3.500 đồng/kg. Ở Đồng Bằng Sông Hồng giá thóc khoảng 2.300-2.500 đồng/kg, giá gạo khoảng 3.400-4.500 đồng/kg.
Dự đoán giá thành lúa năm 2005 ở đồng bằng sông Hồng khoảng 1.350-1.400 đồng/kg, ở đồng bằng sông Cửu Long khoảng 1.050-l.250 đồng/kg, so với dự đoán trên thì người sản xuất có lãi: đồng bằng sông Hồng khoảng hơn 60%, ở đồng bằng sông Cửu Long khoảng hơn 95%. Với giá thành và giá mua lúa dự báo trên, gạo xuất khẩu của Việt Nam có khá năng cạnh tranh với gạo xuất khẩu của các nước trong khu vực ASEAN.
Nguồn: Thời báo Tài chính ra ngày 17 tháng 2 năm 2005.
**************************
Dự báo xuất khẩu gia cầm của Philippine năm 2005 tăng
Vì không bị dịch cúm gia cầm, Philippine hy vọng sẽ tăng xuất khẩu gia cầm trong năm 2005. Được biết, năm2004, Philippine đã xuất khẩu 1,4 triệu kg sản phẩm gia cầm, chủ yếu sang Nhật Bản.
Vụ trưởng Vụ Chăn nuôi của Philippine, Jose Molina, cho biết xuất khẩu sản phẩm gia cầm của nước này sang thị trường Nhật Bản có thể tăng gấp 10 lần trong năm 2005, lên 14 triệu kg.
Xuất khẩu gà giống (1 ngày tuổi) của Philippine sang Malaysia và Indonexia năm 2004 đạt 300.000 con, và dự báo sẽ tăng lên 3 triệu con trong năm 2005.
Mỗi năm, Philippine sản xuất khoảng 600 triệu kg gia cầm và lĩnh vực này chiếm khoảng 15% sản lượng nông sản Philippine.
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 18 tháng 2 năm 2005.
******************************
Tình hình cung cầu phân bón toàn cầu năm 2004 và dự báo 2005
Nhu cầu và triển vọng ngắn hạn:
Tiêu thụ phân bón trên thị trường thế giới năm 2003-2004 ướcđạt 145,5 triệu tấn nutrients ( N+P205+ K20), tăng 2,1% so với năm trướcđó và dự đoán sẽ đạt khoảng 149,8 triệu tấn trong năm 2004-2005, tăng2,9% so với năm 2003-2004.^
Tuy nhiên, thảm hoạ thiên tai vừa xảy ra ở Châu á đã khiến nhiều nhà phân tích điều chỉnh giảm mức dự đoán về tăngtrưởng nhu cầu xuống còn 2,5%.
Năm 2003-2004, nhu cầu tiêu thụ phân bón toàn cầu có mức tăng cao nhất về khối lượng do nhu cầu từ Nam Mỹ tăng thêm 2 triệu tấn, từ Nam á tăng 0,9 triệu tấn kết quả của vụ mùa bội thuở Braxin và hồi phục sản lượng nông nghiệp ở Ấn Độ.
Dưới đây là số liệu dự đoán chi tiết về nhu cầu phân bón toàn cầu năm 2004-2005 (đơn vị tính: nghìn tấn nutrient):

Tên phân bón 2003/2004 2004/2005 % tăng giảm 2004/2005 so với 2003/2004
N 85.868 88.252 2,8
P 205 34.651 35.637 2,8
K20 24.986 25.897 3,6
Tổng cộng 145.505 149.786 2,9
+Nguồn cung:
Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2005 dự đoán sẽ giảm xuống còn 4,3% so với mức tăng 5% trong năm 2004. Để phù hợp với xu hướng tăng trưởng GDP toàn cầu, Tổ chức Thương mại Thế giới dự đoán tăng trưởng mậu dịch phân bón toàn cầu sẽ giảm từ 8,8% năm 2004 xuống còn 7,2% năm 2005.
Tháng 12/04, Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹdự đoán, giá khí gas thiên nhiên sẽ vẫn ở mức cao trong năm 2005 với mức giá giao ngay đạt 6-7 USD/ mmBtu. Cước phí giao rời sau một năm biến động thất thường và đã hồi phục vào cuối năm 2004, dự đoán sẽ khó hồi phục mạnh trong năm 2005 nếu như nhu cầu mua không mạnh.
Tiêu thụ phân bón có dấu hiệu hồi phục từ cuối năm 2001 và tăng khá nhanh trong năm 2004, tuy nhiên sang năm 2005,nhu cầu tiêu thụ phân bón dự đoán sẽ tăng trưởng chậm lại.
Năm 2004, nhu cầu phân bón hồi phục, sản lượng phân bón toàn cầu đã tăng bình quân là 4% và mậu dịch phân bón tăng 8%, đạt gần chạm mức kỷ lục. Tình trạng thiếu nguồn cung bắt đầu xảy ra từ đầu năm 2004, kết quả giá các loại phân bón tăng khá mạnh so với năm trước.
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 18 tháng 2 năm 2005.
****************************

Điểm tình hình thị trường cà phê trong năm 2005
Năm 2005 giá cà phê có thể sẽ tăng sau 6 năm qua do nhu cầu thế giới tăng và sản lượng từ Brasil giảm.
Giá cà phê arabica giao sau niêm yết tại sàn giao dịch New York Board of Trade, sàn giao dịch cà phê lớn nhất thế giới, sẽ ở mức trung bình là 1 USD/pound trong năm 2005.^ Đây là dựa trên kết quả đánh giá của 11 nhà phân tích và chế biến cà phê. Giá này cao hơn 30% so với năm 2004.
Cà phê kỳ hạn giá đã tăng 60% trong năm 2004, cao hơn cả các loại hàng hoá khác như dầu thô, đường, đồng. Các nhà cung cấp đã phải chịu sức ép từ nhu cầu tăng của Starbucks và những người mua khác, đồng thời trước viễn cảnh sản lượng giảm từ các nước Brasil, Việt nam và Inđônêxia. Ba nước này chiếm 48% xuất khẩu cà phê hạt của thế giới.
Giá cà phê kỳ hạn ngày 21/12 đã đạt 1,087 USD/lb, mức cao nhất kể từ tháng 7/2000. Năm 2004 tăng bình quân 77,12 UScent, 23% so với năm 2003.
Giá kỷ lục trong năm 2005 sẽ đạt mức 1,275 USD. Mức tiêu thụ cà phê toàn cầu trong năm 2005 sẽ đạt khoảng 118 triệu bao, tăng 2,4%. Nhu cầu từ Mỹ, nước tiêu thụ cà phê lớn nhất trên thế giới đã tăng 9,2% trong năm 2003.
Trong tháng 10/2004, hệ thống các nhà hàng cà phê Starbucks ở Seatle, hệ thống tiêu thụ lớn nhất trên thế giới đã tăng 11 UScent/ly. Đây là lần tăng giá đầu tiên sau 4 năm.
Nguồn: Báo Thương mại, ra ngày 19 tháng 2 năm 2005.
****************************
Tham khảo giá cà phê tại TP.Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk ngày 18/02/2005
ĐV : đồng/kg
Loại cà phê Giá mua tại CTy cà phê BMT(đ/kg) Giá mua tại CTy XNK 2/9 (đ/kg)
Chiều hôm trước Sáng nay Chiều hôm trước Sáng nay
Cà phê nhân xô 10.800 10.800 10.800 10.800
Cà phê loại R2-5% 10.900 10.900
Cà phê loại R 1-6.3 11.350 11.350
Cà phê loại R 1-7.1 11.450 11.450
* Nhận xét: Giá cà phê sáng nay giảm nhẹ
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 18 tháng 2 năm 2005.
***************************
Giá một số loại quả bán buôn tại chợ Long Biên, Hà Nội ngày 18/02/2005
ĐVT: đ/kg
Mặt hàng Nguồn gốc Giá loại I Giá loại II Giá loại III
Củ đậu Trung Quốc 1400 1300 1200
Cam Hà Giang MB 9000 7000 6000
Cam đường Canh MB 36000 32000 27000
Quýt đường loại nhỏ TQ 23000 21000 20000
Lê Trung Quốc 10000 8000 7000
Táo TQ 8000 7000 5000
Táo đường Trung Quốc 17000 15000 13000
Nho MN 23000 20000 18000
Cam sành Miền Nam 17000 15000 13000
Dưa hấu đỏ Miền Nam 5500 5000 4500
Thanh long Miền Nam
Vú sữa MN 16000 14000 12000
Xoài Chu nghệ 12000 10000 8000
Xoài Cát Chu 14000 12000 9000

Ghi chú: Phẩm cấp của các loại quả như sau:
- Dưa: Quả tròn vàng + trắng có tem dán
- Xoài xanh: Quả to dài hồng
- Cam sành: Quả tròn vỏ sần xanh
- Nhãn MN: Quả nhỏ hạt to
- Nhãn MB: Qủa nhỏ cùi dày thơm
- Lê TQ: Qủa to trắng
- Nho MN: Qủa nhỏ bắp chùm
- Táo TQ: Qủa tròn xanh dỏ
- Củ đậu MB: Củ tròn trắng
- Măng cụt MN: Qủa tròn núm tươi
- Nho TQ: Qủa to bắp to tím
- Táo TQ: Quả tròn xanh và đỏ
- Quýt nhỏ TQ: Qủa nhỏ chín đỏ
- Xoài Bố MN: Qủa to chín không thâm
- Dưa hấu đỏ: Quả dài đen có kẻ mờ
- Dưa hấu ruột vàng: Quả to đen dài
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 18 tháng 2 năm 2005
***************************
Tham khảo giá gạo giao ngay của Hiệp hội các nhà xuất khẩu gạo Thái lan tuần từ ngày 3-17/2/2005
Đơn vị tính: USD/tấn
Loại gạo Giá tuần trước Giá tuần này Mức tăng giảm
Broken A-1 Spc-A 232 234 +2
Frgnt 100% 1st A 447 449 +2
Frgnt 100% 2nd A 434 436 +2
Lonzain 100%2ndA 286 287 +1
Parboiled 5% A 291 292 +1
Parboiled 10% A 288 290 +2
White 100% 1st A 317 319 +2
While 100% 2nd A 296 298 +2
White 5% A 291 292 +1
White 10% A 288 290 +2
White 15% A 279 281 +2
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 18 tháng 2 năm 2005
*****************************
Tham khảo giá gạo tại thị trường Châu Âu ngày 17/02/2005
Đơn vị tính: USD/tấn, C+F Rotterdam
Gạo Thái Lan Giá
Gạo tấm cao cấp loại 1(giao rời) 279
Gạo Loonzain 100% loại B (giao rời) 351
Gạo đồ Loonzain 100% sortex 355
Gạo trắng 100% loại B 398
Gạo tấm thơm A1 extra super 390
Gạo thơm Loozain 515
Gạo Mỹ, USD/100lb Giá
Gạo lức thường 2/4/75 14,25
Gạo lức đồ 1/4/88 14,75
Gạo Italy, euro/tấn,FCAVercelli Area, giao rời Giá
Gạo Indica 5% 300
Gạo hạt tròn 5% 310
Gạo Indica Pb 5% Sortex 330
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 18 tháng 2 năm 2005
*******************************
Giá cà phê Robusta tại Singapore ngày 17/02/2005
Đơn vị tính: USD/tấn
Giao kỳ hạn Giá đóng cửa
3/05 812
5/05 822
7/05 836
9/05 849
11/05 859
01/06 870
03/06 884
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 18 tháng 2 năm 2005
*****************************
Tham khảo giá đường hợp đồng số 11 tại Sở giao dịch New York (CSCE) ngày 17/02/2005.
Đơn vị tính: UScent/lb(1lb = 0,454 kg)
Giao kỳ hạn Giá mở cửa Giá cao Giá thấp Giá đóng cửa Mức tăng giảm so hôm trước
3/05 8,85 8,98 8,84 8,93 0,05
5/05 9,2 9,34 9,2 9,3 0,06
7/05 9,12 9,26 9,12 9,25 0,1
10/05 9,04 9,15 9,04 9,13 0,08
3/06 8,91 9,02 8,91 9,02 0,1
5/06 8,81 8,9 8,81 8,9 0,09
7/06 8,7 8,81 8,79 8,79 0,08
10/06 8,75 8,84 8,75 8,79 0,08
Nguồn: Theo Agroviet ra ngày 18 tháng 2 năm 2005
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia