Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Nông thôn đổi mới » 2005 » Số 6 » Đường lối - Chính sách » Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : Tiếng Việt
Tên nguồn trích : Nông thôn đổi mới
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 6/Đường lối - Chính sách
Đề mục : 06.61 Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ. Kinh tế theo vùng
Từ khoá : Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Nội dung:

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có một vị trí rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, là chía khóa chính trong chiến lược lương thực quốc gia. Trong những năm gần đây, ĐBSCL đã có nhiều thành tựu nổi bật trong phát triển kinh tế - xã hội.
Kinh tế liên tục tăng trưởng trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng vùng luôn cao hơn cả nước. Thời kỳ 1996 – 2000 đạt 7,8%/năm trong khi cả nước đạt 6,9%/năm; thời kỳ 2001 – 2003 đạt 9,6%/năm trong khi cả nước đạt 7,1%/năm. GDP của vùng ĐBSCL năm 2001 chiếm 17,44%. năm 2002 chiếm 17,73% và đến năm 2003 chiếm 18,0% tổng GDP cả nước. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đáng kể. Tuy nhiên ngành nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng lớn. Đến nay sản xuất lúa vùng ĐBSCL chủ yếu là nông nghiệp và thủy sản. Nông nghiệp đạt tỷ lệ tăng trưởng khá cao, trong 10 năm từ 1991 – 2000 đạt tốc độ khoảng 6,3% và chiếm 36% cả nước. Công nghiệp tăng trưởng bình quân 8,6% trong 10 năm kể từ 1991 – 2000 chiếm 9,5% so với cả nước, trong đó công nghiệp chế biến chiếm 65-70%. Ngành dịch vụ phát triển mạnh đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của vùng. Đáng lưu ý là xuất khẩu tăng nhanh, năm 1990 kim ngạch xuất khẩu đạt 338 triệu USD tăng lên 1334 triệu USD năm 2000.
Cơ cấu kinh tế vùng ĐBSCL thời kỳ 1996-2000 so với thời kỳ 1991-1995 có sự chuyển dịch đáng kể, nhưng tổng 10 năm còn chậm. Đây là vấn đề đòi hỏi ĐBSCL phải có giải pháp tích cực nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng cho giai đoạn sau. Từ nay đến năm 2010 cần phát huy tổng hợp các biện pháp, lợi dụng triệt để các lợi thế đã có của ĐBSCL, hạn chế tối đa các trở ngại để tạo đà thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh, ổn định, bền vững và hiệu quả, phấn đấu phát triển kinh tế - xã hội của vùng phải đạt trên mức trung bình quân cả nước.
Mục tiêu phát triển kinh tế đến năm 2010 của vùng ĐBSCL:
Một là, tốc độ tăng trưởng GDP đạt gấp 1,3 – 1,5 lần cả nước. Hai là hình thành vùng sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp hiện đại có chất lượng và giá trị cao, sức cạnh tranh lớn, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Ba là tốc độ tăng trưởng công nghiệp 14-16%/năm, đưa tỷ trọng công nghiệp/GDP khoảng 33-34%. Xây dựng ngành công nghiệp chế biến lớn có trình độ công nghệ cao.
Để đảm bảo các mục tiêu nêu trên cần phải hài hòa nền kinh tế, khai thác tài nguyên hợp lý... một trong những vấn đề cần phải làm là đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trước tiên công nghiệp hóa hiện hóa nông nghiệp nông thôn.
Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng ĐBSCL đến năm 2010.
Cơ cấu kinh tế vùng ĐBSCL đến năm 2005 là khu vực I: 45,5%; khu vực II: 22,5% và khu vực III: 31,5%. Đến năm 2010, tỷ lệ tương ứng là 38,8%, 21,5% và 36,1%.
Muốn đạt được sự chuyển dịch cơ cấu như vậy đòi hỏi phải giải pháp đồng bộ một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là; giải pháp về quy hoạch: Cần rà soát điều chỉnh quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, từ đó hình thành tổ chức để triển khai, phối hợp thực hiện các mục tiêu trong quy hoạch đề ra. Cần đặc biệt chú ý đặc điểm vùng ngập lụt ĐBSCL.
Hai là, giải pháp về vốn đầu tư: Huy động tổng hợp các nguồn vốn cho đầu tư phát triển vùng ĐBSCL bao gồm vốn Nhà nước, các doanh nghiệp, vốn tín dụng, vốn của dân, vốn huy động từ bên ngoài FDI, ODA. Tiếp tục thực hiện việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư, cần có chính sách ưu tiên tập trung vốn cho các dự án chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả kinh tế - xã hội, vốn cho các ngành và sản phẩm xuất khẩu, vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng.
Ba là, giải pháp về thị trường và tiêu thụ sản phẩm: Cần tổ chức, thu thập xử lý thông tin về thị trường, dự báo thị trường, chủ động tìm kiếm và mở rộng thị trường, củng cố và tạo uy tín, lòng tin về thị trường đã có. Cần đặc biệt lưu ý thị trường trong nước nhất là vùng Đông Nam Bộ và Tp. Hồ Chí Minh, tuy nhiên thị trường ngòai nước cũng cần được quan tâm nhất là thị trường truyền thống. Khuyến khích các doanh nghiệp ký kết hợp đồng sản xuất và tiêu thúp cho nông dân, xây dựng các chợ nông sản phù hợp với từng địa phương.
Bốn là, giải pháp khoa học – công nghệ: Tăng cường nghiên cứu và ứng dụng khoa học – công nghệ, có cơ chế gắn kết giữa nghiên cứu và sản xuất, thực hiện hình thức chuyển giao công nghệ bằng hợp đồng đặt hàng, nghiên cứu phát triển các dịch vụ tư vấn khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp và nhà sản xuất. Đẩy nhanh phát triển công nghệ sinh học nhất là nghiên cứu và ứng dụng thành tựu về giống cây trồng, vật nuôi, công nghệ sau thu hoạch, công nghệ chế biến nông sản...
Năm là, giải pháp về đào tạo lao động: Quan tâm hơn nữa đến phát triển nguồn nhân lực, xây dựng các trường dạy nghề, ưu tiên cho khu vực công nghiệp, mặt khác tăng cường dạy nghề cho nông dân. Chuyển dịch cơ cấu lao động giảm theo hướng tăng ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm lao động ngành nông lâm nghiệp.
Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Dự báo, Số 11/2004; tr. 20-21.
**************************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia